Ô nhiễm môi trường đô thị (Bài 5): Người dân đô thị đang phải đối diện với những nguồn ô nhiễm nào?
Ô nhiễm môi trường - Ngày đăng : 07:05, 05/10/2026
Đô thị hóa đang mở rộng nhanh, kéo theo những sức ép ngày càng lớn lên môi trường sống. Từ bụi và khí thải trên đường phố, ô nhiễm tại công trường xây dựng, rác thải trong khu dân cư đến nước thải, những dòng sông, hồ và kênh mương xuống cấp, nhiều nguồn ô nhiễm đang cùng hiện diện trong một không gian sống.
Ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường đô thị (Bài 5): Người dân đô thị đang phải đối diện với những nguồn ô nhiễm nào?
Khang Vũ•{Ngày xuất bản}
Đô thị hóa đang mở rộng nhanh, kéo theo những sức ép ngày càng lớn lên môi trường sống. Từ bụi và khí thải trên đường phố, ô nhiễm tại công trường xây dựng, rác thải trong khu dân cư đến nước thải, những dòng sông, hồ và kênh mương xuống cấp, nhiều nguồn ô nhiễm đang cùng hiện diện trong một không gian sống.
Đô thị hóa đang mở rộng nhanh, kéo theo những sức ép ngày càng lớn lên môi trường sống. Từ bụi và khí thải trên đường phố, ô nhiễm tại công trường xây dựng, rác thải trong khu dân cư đến nước thải, những dòng sông, hồ và kênh mương xuống cấp, nhiều nguồn ô nhiễm đang cùng hiện diện trong một không gian sống.
Đô thị hóa đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong không gian sống của người dân Việt Nam. Những khu dân cư mới, tuyến đường mới, công trình mới và các hoạt động kinh tế ngày càng mở rộng, đáp ứng nhu cầu phát triển nhưng đồng thời cũng tạo thêm sức ép lên môi trường. Khi quy mô đô thị lớn hơn, nhu cầu đi lại, xây dựng, tiêu dùng và sử dụng hạ tầng tăng lên, bài toán môi trường cũng trở nên phức tạp hơn.
Những nguồn ô nhiễm nào đang bủa vây các đô thị lớn?
Tại những đô thị lớn của Việt Nam, mỗi ngày, người dân có thể đi qua những tuyến đường đầy khói bụi từ dòng xe cộ hối hả, từ công trường đang thi công, đi qua những điểm tập kết rác, hay dòng sông, con kênh nặng mùi, hoặc có khi là khu sản xuất nằm xen kẽ khu dân cư. Phía sau những hình ảnh quen thuộc ấy là nhiều nguồn phát thải đang tác động trực tiếp đến chất lượng môi trường đô thị, từ không khí, nước đến chất thải và hoạt động xây dựng, sản xuất mà người dân phải tiếp xúc mỗi ngày.
Từ khói bụi trên đường đến những công trường xây dựng
Tại Hà Nội, theo số liệu được công bố tại Hội nghị liên vùng vào ngày 4/6/2026, giao thông vận tải đóng góp khoảng 23% PM2.5, xây dựng và bụi đường 20%, đốt mở 12%, công nghiệp 10%, trong khi bụi thứ cấp chiếm khoảng 27%. Nếu chỉ tính các nguồn phát thải nội tại của thành phố, giao thông chiếm khoảng 59%, bụi đường và hoạt động xây dựng khoảng 28%.
Những con số này cho thấy ô nhiễm không khí trong đô thị không đơn thuần là câu chuyện của khói xe. Một tuyến đường đang thi công có thể đồng thời chịu tác động từ phương tiện giao thông, bụi mặt đường, đất cát từ công trường và xe vận chuyển vật liệu. Khi điều kiện khí tượng bất lợi, các chất ô nhiễm càng khó khuếch tán, khiến người dân phải tiếp xúc với nhiều nguồn phát thải trong cùng một không gian.
Môi trường đô thị đang chịu áp lực lướn từ khói bụi
Sức ép tương tự cũng đang hiện diện ở TP.HCM, nơi giao thông, tốc độ đô thị hóa và hoạt động xây dựng diễn ra với cường độ cao. Quy mô dân số lớn, mật độ phương tiện dày đặc và mạng lưới công trình liên tục mở rộng khiến kiểm soát bụi, khí thải và tiếng ồn trở thành một phần quan trọng trong bài toán môi trường đô thị.
Tại TP.HCM, sức ép bụi và khí thải thể hiện rõ tại các khu vực có mật độ giao thông cao, khu vực cảng biển và các tuyến đang chịu áp lực xây dựng. Báo cáo hiện trạng môi trường giai đoạn 2021–2025 cho thấy bụi PM2.5 tại một số điểm vượt quy chuẩn từ 1,1 đến 4,6 lần. Riêng khu vực Cát Lái, có tới 84% số liệu quan trắc vượt quy chuẩn; các khu vực An Sương, Bình Phước, Suối Tiên, Huỳnh Tấn Phát – Nguyễn Văn Linh ghi nhận 30–34% số liệu vượt. Quốc lộ 1 và vòng xoay An Phú cũng nằm trong nhóm điểm nóng về bụi vào giờ cao điểm. Đáng chú ý, giao thông đường bộ được xác định là nguồn phát thải chính, chiếm khoảng 92% lượng PM2.5 từ hoạt động giao thông.
Còn ở các đô thị cảng và công nghiệp như Hải Phòng, Bình Dương bức tranh còn có thêm những nguồn phát thải gắn với sản xuất công nghiệp, cảng biển, logistics và vận chuyển hàng hóa. Khi các khu công nghiệp, cảng và khu dân cư ngày càng đan xen trong quá trình mở rộng không gian đô thị, áp lực môi trường cũng không còn nằm trong phạm vi một nhà máy hay một công trường riêng lẻ.
Dù mỗi đô thị có đặc điểm khác nhau, điểm chung ngày càng rõ là tốc độ phát triển đang kéo theo sự gia tăng đồng thời của giao thông, xây dựng, sản xuất và các hoạt động kinh tế, tạo ra nhiều nguồn bụi, khí thải, tiếng ồn tác động trực tiếp đến không gian sống của người dân.
Từ áp lực thu gom, xử lý rác thải …
Rời đường phố, người dân trở về khu dân cư nhưng không có nghĩa đã rời khỏi vùng chịu tác động bởi môi trường ô nhiễm. Cùng với sự gia tăng dân số và tiêu dùng, lượng chất thải sinh hoạt phát sinh ngày càng lớn, tạo áp lực lên toàn bộ chuỗi thu gom, vận chuyển và xử lý.
Tại Hà Nội, số liệu của Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, thành phố hiện thu gom, xử lý hơn 8.000 tấn chất thải rắn sinh hoạt mỗi ngày và dự báo lượng rác có thể tăng lên khoảng 13.200 tấn/ngày vào năm 2030. Đến tháng 9/2026, tỷ lệ rác được xử lý bằng công nghệ đốt đạt 85,6%, chôn lấp trực tiếp 14,4%. Những con số này cho thấy quy mô của bài toán không chỉ nằm ở các khu xử lý tập trung, mà còn ở khả năng thu gom và tổ chức các điểm tập kết trong chính khu dân cư.
Theo phản ánh của chị Mai Phương, một người dân sống gần Khu Dịch vụ Vạn Phúc (Hà Đông), tình trạng đổ rác trộm kéo dài nhiều năm ngay cạnh khu dân cư, không chỉ bốc mùi khó chịu mà còn vô cùng mất mỹ quan. “Hàng loạt xe rác xếp hàng chỉ cách nhà tôi hơn 100m, lúc nào cũng trong tình trạng đầy ứ rác thải, không chỉ là rác sinh hoạt, phần lớn là từ mấy hộ kinh doanh quanh đây thải ra. Chả hiểu từ bao giờ họ biến khu dân cư thành bãi rác thế này”, chị Mai Phương bức xúc.
Xe tập kết đầy ứ rác thải trong khu dân cư
Tình trạng tương tự cũng xảy ra tại khu vực đường nối Chu Huy Mân - Nguyễn Văn Linh (Long Biên). Theo anh Nguyễn Quân, nhiều năm nay, khu vực này đã trở thành nơi tập kết rác, đáng nói là việc vận chuyển rác gây rò rỉ nước thải không chỉ gây mùi, mất mỹ quan, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân, đặc biệt hơn là gây mất an toàn giao thông. Đây chỉ là 2 ví dụ trong vô vàn thực tế tại những điểm tập kết rác đã và đang tồn tại trên nhiều con phố của Thủ đô. Điều này cũng đặt ra một vấn đề “nóng”: Nơi tập kết vốn là mắt xích trong chuỗi thu gom sẽ có thể nhanh chóng trở thành nguồn ô nhiễm nếu quá tải, vận chuyển không kịp thời hoặc hạ tầng không đáp ứng yêu cầu.
Xe chở rác nếu không được che chắn có thể gây rò rỉ nước thải
Còn tại TP.HCM, áp lực từ chất thải rắn sinh hoạt thể hiện rõ qua quy mô phát sinh ngày càng lớn. Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Môi trường Thành phố, tổng lượng rác sinh hoạt trên địa bàn hiện khoảng 14.116 tấn/ngày, trong đó khu vực đô thị phát sinh 11.663 tấn/ngày, khu vực nông thôn khoảng 2.453 tấn/ngày. Khối lượng này tăng gần 1,2 lần so với năm 2021 và tương đương khoảng 1/5 lượng rác phát sinh trên cả nước. Tỷ lệ chất thải được thu gom, xử lý đạt khoảng 99,3%, cho thấy năng lực xử lý cuối nguồn đã được tăng cường đáng kể, nhưng bài toán quản lý rác trong lòng đô thị vẫn còn nhiều sức ép.
Tổng lượng rác sinh hoạt thu gom trên địa bàn TP.HCM lên đến 14.116 tấn/ngày
Áp lực không chỉ nằm ở khối lượng rác mà còn ở cách tổ chức thu gom trong một đô thị đông dân. Cuối năm 2025, riêng hệ thống thu gom tại 14 địa bàn quận, huyện cũ của TP.HCM đã điều phối khoảng 4.550 tấn rác/ngày với 443 chuyến xe. Khi thời gian tiếp nhận rác tại khu xử lý Đa Phước được điều chỉnh, thành phố phải tổ chức lại các tuyến vận chuyển, trong đó chuyển khoảng 450 tấn/ngày từ một số khu vực cấp bách về khu liên hợp xử lý chất thải Tây Bắc và khoảng 1.350 tấn/ngày từ ca ngày sang vận chuyển ban đêm. Những con số này cho thấy phía sau một túi rác được đưa khỏi khu dân cư là cả một chuỗi thu gom, trung chuyển và vận chuyển với áp lực rất lớn.
Trong không gian đô thị có mật độ dân cư cao, nếu khâu thu gom, trung chuyển không theo kịp lượng chất thải phát sinh, rác dễ tồn đọng tại các điểm tập kết hoặc bị cuốn theo nước mưa vào hệ thống thoát nước. Khi đó, bài toán chất thải không còn tách rời với ngập úng, ô nhiễm kênh rạch và suy giảm chất lượng nguồn nước. Vì vậy, với các đô thị lớn, kiểm soát ô nhiễm từ rác không chỉ là câu chuyện nâng công suất các khu xử lý cuối nguồn, mà còn bắt đầu từ việc giảm lượng rác phát sinh, phân loại tại nguồn, tổ chức thu gom phù hợp và kiểm soát toàn bộ dòng chất thải ngay trong không gian dân cư.
...đến những dòng sông đang nghẹt thở
Từ khu dân cư, một phần sức ép môi trường tiếp tục đi xuống hệ thống thoát nước và các dòng sông. Hà Nội có hơn 3.500 ao, hồ cùng mạng lưới sông, kênh mương giữ vai trò quan trọng đối với cảnh quan và tiêu thoát nước. Thế nhưng, nhiều dòng sông của Hà Nội đang phải tiếp nhận sức ép ngày càng lớn từ nước thải sinh hoạt, phế thải xây dựng, sản xuất làng nghề và hoạt động chăn nuôi.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, đến tháng 8/2026, toàn bộ 345 cửa xả vào sông Tô Lịch đã được thu gom về Nhà máy xử lý nước thải Yên Xá, với khoảng 200.000-230.000 m³ nước thải được thu gom mỗi ngày; tỷ lệ nước thải đô thị được xử lý đạt mức 50,2%. Thực tế này cho thấy, dù hệ thống thu gom, xử lý đang từng bước được mở rộng, nhưng vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu. Nhiều dòng sông, hồ, kênh mương vẫn nằm giữa các khu dân cư vì thế vẫn tiếp tục chịu sức ép từ nước thải, rác thải. Và với người dân sống ven sông, cảnh dòng nước đen ngòm bốc mùi, cùng rác thải, xác động vật trôi nổi, côn trùng bu bám tạo nên cảnh quan vô cùng nhếch nhác đã trở thành một phần của đời sống thường nhật, đặt ra câu hỏi về những nguyên nhân khiến ô nhiễm vẫn dai dẳng ngay giữa lòng đô thị.
NhNhững dòng sông giữa lòng thành phố trong tình trạng ô nhiễm nặng
Còn tại TP.HCM, áp lực lại gắn chặt với hệ thống kênh rạch và khả năng thoát nước của một đô thị có địa hình thấp, chịu tác động đồng thời của mưa lớn, triều cường, nước thải và chất thải. Khi rác thải làm cản trở dòng chảy, nước thải chưa được xử lý triệt để đi vào hệ thống kênh rạch, những vấn đề vốn được quản lý ở các lĩnh vực khác nhau lại cùng hội tụ trong một không gian.
Với các thành phố công nghiệp khác, quá trình phát triển cảng biển, công nghiệp, dịch vụ và đô thị cũng tạo ra những sức ép lớn đối với nguồn nước và môi trường ven biển. Nhu cầu sử dụng nước và phát sinh nước thải tại đây cũng được xem là những nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm hệ thống sông, cửa sông, vùng ven biển và không gian sinh thái vốn có.
Với người dân sống ven sông, kênh mương hoặc tại những khu vực có hệ thống thoát nước xuống cấp, ô nhiễm không chỉ thể hiện qua màu nước mà còn hiện hữu trong mùi hôi, rác thải ven bờ, xác động vật, côn trùng và cảnh quan nhếch nhác. Những tác động ấy diễn ra ngay trong không gian sinh hoạt hằng ngày, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của người dân. Khi đó, một dòng nước ô nhiễm không còn là vấn đề riêng của khu dân cư ven sông, mà phản ánh những bất cập trong thu gom, xử lý nước thải, quản lý chất thải và bảo vệ môi trường của cả không gian đô thị.
Tại những đô thị lớn của Việt Nam, mỗi ngày, người dân có thể đi qua những tuyến đường đầy khói bụi từ dòng xe cộ hối hả, từ công trường đang thi công, đi qua những điểm tập kết rác, hay dòng sông, con kênh nặng mùi, hoặc có khi là khu sản xuất nằm xen kẽ khu dân cư. Phía sau những hình ảnh quen thuộc ấy là nhiều nguồn phát thải đang tác động trực tiếp đến chất lượng môi trường đô thị, từ không khí, nước đến chất thải và hoạt động xây dựng, sản xuất mà người dân phải tiếp xúc mỗi ngày.
Vì sao ô nhiễm vẫn tồn tại giữa lòng đô thị?
Ô nhiễm môi trường đô thị không phải câu chuyện của một vài điểm nóng hay một số nguồn thải riêng lẻ. Đằng sau những con đường đầy bụi, dòng sông ô nhiễm hay những điểm tập kết rác tồn tại kéo dài là một bài toán quản lý phức tạp, khi nguồn gây ô nhiễm phân tán, khả năng kiểm soát chưa đồng đều và tốc độ phát triển đô thị liên tục tạo thêm sức ép mới.
Nguồn thải phân tán, khó kiểm soát
Một nhà máy lớn có thể được xác định rõ vị trí, loại hình sản xuất và nguồn phát thải để kiểm tra, giám sát. Nhưng tại các đô thị, sức ép môi trường lại đến từ rất nhiều nguồn nhỏ và phân tán: phương tiện giao thông, công trường xây dựng, hoạt động vận chuyển vật liệu, cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh, điểm tập kết rác hay các hoạt động đốt ngoài trời. Chính sự phân tán này khiến việc kiểm soát khó khăn hơn. Một tuyến phố có thể đồng thời chịu tác động từ khí thải phương tiện, bụi đường và bụi công trình. Một khu dân cư có thể phát sinh nước thải, rác thải và tiếng ồn từ nhiều hoạt động khác nhau.
Bàn về ô nhiễm không khí, TS. Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường cho rằng: Các nguồn phát thải như giao thông, xây dựng, đốt ngoài trời cần được kiểm soát chặt chẽ hơn; đồng thời, ô nhiễm không khí còn có tính liên vùng, liên tỉnh nên không thể chỉ khoanh vấn đề trong ranh giới hành chính của một địa phương. Điều này cho thấy, với các đô thị lớn, bài toán ô nhiễm không chỉ nằm ở việc nhận diện từng nguồn thải mà còn ở khả năng nhìn thấy sự tác động đồng thời của nhiều nguồn trong cùng một không gian.
Khoảng cách giữa quy định và thực tế
Ở nhiều đô thị, hệ thống quy định về bảo vệ môi trường ngày càng được hoàn thiện, từ kiểm soát nguồn thải, quản lý chất thải, nước thải đến yêu cầu đối với các hoạt động xây dựng, sản xuất, giao thông. Tuy nhiên, khoảng cách từ một quy định trên giấy đến sự thay đổi thực tế trong không gian sống vẫn là vấn đề đáng lưu ý. Hiệu quả quản lý cuối cùng phụ thuộc nhiều vào khả năng tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và xử lý tại từng khu vực.
PGS.TS. Bùi Thị An, Viện trưởng Viện Tài nguyên - Môi trường và Phát triển cộng đồng cho rằng, vấn đề hiện nay không còn chủ yếu nằm ở nhận thức, mà ở khoảng cách giữa nhận thức và hành động, giữa yêu cầu bảo vệ môi trường và khả năng thực hiện, cũng như giữa trách nhiệm của người gây ô nhiễm và những chi phí xã hội phải gánh chịu. Khoảng cách ấy có thể nhìn thấy trong nhiều vấn đề của đời sống đô thị. Quy định kiểm soát bụi đã có nhưng công trường vẫn có thể phát sinh bụi; yêu cầu thu gom rác được đặt ra nhưng tại một số khu vực, rác vẫn tồn lưu; hệ thống thu gom và xử lý nước thải được đầu tư nhưng chưa phải nơi nào cũng có khả năng tiếp nhận và xử lý toàn bộ lượng nước thải phát sinh. Khi hoạt động kiểm tra, giám sát không theo kịp tốc độ phát sinh nguồn thải, những vi phạm tưởng như nhỏ và cục bộ có thể kéo dài, cộng dồn và trở thành sức ép thường xuyên đối với khu dân cư.
Điều đó cho thấy hiệu quả của chính sách môi trường không chỉ được quyết định bởi việc có bao nhiêu quy định, mà còn bởi khả năng đưa các quy định ấy xuống từng tuyến đường, khu dân cư, công trường, cơ sở sản xuất và điểm tập kết chất thải. Nếu khâu thực thi thiếu đồng bộ, khoảng cách giữa yêu cầu quản lý và thực tế môi trường sống sẽ tiếp tục tồn tại.
Đô thị phát triển nhanh hơn năng lực kiểm soát
Một sức ép khác đến từ chính tốc độ phát triển của các đô thị. Dân số tăng, phương tiện giao thông nhiều hơn, các khu dân cư và công trình xây dựng mở rộng, hoạt động sản xuất, thương mại và dịch vụ phát triển kéo theo lượng chất thải, nước thải, bụi và khí thải ngày càng lớn. Trong khi đó, hạ tầng thu gom, xử lý, quan trắc và năng lực quản lý môi trường phải liên tục được đầu tư, mở rộng để theo kịp.
Không chỉ thiếu hạ tầng, nhiều đô thị còn đứng trước bài toán thiếu dữ liệu đủ tin cậy để nhận diện chính xác nguồn gây ô nhiễm. Với ô nhiễm không khí, chẳng hạn, một đô thị có thể đồng thời chịu tác động từ giao thông, xây dựng, sản xuất công nghiệp, đốt ngoài trời và các nguồn phát thải từ khu vực lân cận.
“
Khi đô thị tiếp tục mở rộng mà hạ tầng môi trường, dữ liệu quan trắc và năng lực quản lý không tăng tương ứng, khoảng cách giữa tốc độ phát triển và khả năng kiểm soát sẽ ngày càng rõ. Khi đó, ô nhiễm không còn là câu chuyện của một công trường, một dòng sông hay một điểm tập kết rác, mà trở thành sức ép kéo dài lên toàn bộ không gian sống.
PGS.TS Hoàng Anh Lê, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng, Việt Nam cần thống nhất cách phân loại nguồn phát thải, hệ số phát thải và phương pháp mô hình hóa để có những kết luận thống nhất về nguồn gây ô nhiễm. Khi đô thị tiếp tục mở rộng mà hạ tầng môi trường, dữ liệu quan trắc và năng lực quản lý không tăng tương ứng, khoảng cách giữa tốc độ phát triển và khả năng kiểm soát sẽ ngày càng rõ. Khi đó, ô nhiễm không còn là câu chuyện của một công trường, một dòng sông hay một điểm tập kết rác, mà trở thành sức ép kéo dài lên toàn bộ không gian sống.
Bởi vậy, nhìn vào ô nhiễm đô thị không thể chỉ dừng ở câu hỏi nguồn thải nằm ở đâu, mà cần đặt vấn đề rộng hơn: các đô thị đang có đủ năng lực để nhận diện, kiểm soát và xử lý những sức ép môi trường ngày càng đan xen hay chưa?
Thay đổi cách quản trị thế nào để nâng chất lượng môi trường đô thị?
Nếu nhìn ô nhiễm đô thị như hệ quả của quá trình phát triển, cách ứng xử chỉ tập trung xử lý những điểm ô nhiễm đã xuất hiện sẽ khó theo kịp tốc độ gia tăng của các nguồn thải. Một công trường được che chắn sau khi phát sinh bụi, một dòng sông được xử lý khi nước đã ô nhiễm hay một điểm tập kết rác được dọn đi sau khi người dân phản ánh đều cần thiết, nhưng chưa đủ. Bài toán lớn hơn là làm sao để quá trình phát triển đô thị ngay từ đầu đã tính đến sức chịu tải của môi trường, nhận diện nguồn gây sức ép và kiểm soát trước khi ô nhiễm trở thành vấn đề của cộng đồng.
Kiểm soát ngay từ nguồn phát sinh
Điểm thay đổi đầu tiên phải nằm ở cách tiếp cận: chuyển từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa và kiểm soát ngay tại nguồn. Theo TS. Bùi Thị An, cần chuyển từ chạy theo sự cố ô nhiễm sang kiểm soát từ gốc nguồn phát thải. Những nguồn phát thải như bụi xây dựng, xe vận chuyển vật liệu, đốt rác tự phát, khói bụi giao thông, hay ô nhiễm sông hồ phải được quản lý cụ thể, gắn với trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng địa bàn.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với Kế hoạch hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm và quản lý chất lượng môi trường không khí giai đoạn 2026-2030 của Chính phủ, trong đó đặt trọng tâm vào kiểm kê, quan trắc, quản lý dữ liệu và kiểm soát các nguồn phát thải.
Quản lý môi trường đô thị có nghĩa là giao thông phải được kiểm soát cùng với tổ chức không gian và phương thức đi lại; công trường phải kiểm soát bụi, bùn đất và chất thải ngay trong quá trình thi công; cơ sở sản xuất phải giảm phát sinh chất ô nhiễm trước khi tính đến xử lý cuối đường ống; rác thải phải được phân loại, thu gom và xử lý từ nơi phát sinh.
Quản lý theo không gian sống
Cũng theo TS. Bùi Thị An, ô nhiễm đô thị không vận hành theo ranh giới của từng lĩnh vực. Bụi từ công trường có thể phát tán ra đường phố, rác từ khu dân cư đi vào hệ thống thoát nước, nước thải tác động đến sông hồ, trong khi giao thông đồng thời tạo khí thải, bụi và tiếng ồn. Vì vậy, quản lý môi trường không thể chia thành từng bài toán riêng lẻ.
Đồng quan điểm, bàn về việc xử lý ô nhiễm các dòng sông, GS.TS Phạm Quý Nhân cho rằng, với các dòng sông đô thị, muốn phục hồi bền vững phải kiểm soát nguồn ô nhiễm, hoàn thiện thu gom và xử lý nước thải, đồng thời phục hồi dòng chảy và hệ sinh thái. Từ góc nhìn này, một con sông không thể được xử lý tách rời khỏi khu dân cư, hệ thống thoát nước và các nguồn thải trên toàn lưu vực.
Các chuyên gia nhấnmanhj, khi quy hoạch một khu dân cư mới phải tính đồng thời năng lực giao thông, thoát nước, xử lý nước thải, thu gom chất thải và không gian xanh. Với khu công nghiệp, sức chịu tải của nguồn nước tiếp nhận, chất lượng không khí và hạ tầng xung quanh cũng phải được tính từ đầu. Đây là bước chuyển từ quản lý từng nguồn thải sang quản trị chất lượng của cả không gian sống.
Để dữ liệu trở thành công cụ quản lý
Quản trị hiện đại không thể thiếu dữ liệu. Hà Nội đang xây dựng hệ thống kiểm kê nguồn phát thải, bản đồ phát thải, mô hình lan truyền ô nhiễm và mở rộng mạng lưới quan trắc. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, giá trị của dữ liệu không nằm ở số lượng thiết bị, mà ở khả năng giúp cơ quan quản lý trả lời được nguồn ô nhiễm ở đâu, diễn biến thế nào, ai phải hành động và kết quả ra sao?
Theo các chuyên gia về môi trường, khi dữ liệu được kết nối theo không gian và thời gian, một điểm bất thường về chất lượng không khí hay nước không chỉ dừng ở cảnh báo mà có thể trở thành căn cứ để xác định nguồn phát thải, trách nhiệm và biện pháp xử lý. Việc công khai thông tin cũng giúp người dân biết chất lượng môi trường nơi mình sống, theo dõi quá trình xử lý và tham gia giám sát.
Lấy chất lượng sống làm thước đo
Sau cùng, hiệu quả quản trị môi trường không nên chỉ đo bằng số cuộc kiểm tra, số biên bản xử phạt hay khối lượng rác được thu gom, mà phải được phản ánh bằng sự thay đổi của môi trường sống.
Một chính sách môi trường chỉ thực sự tạo ra giá trị khi người dân có thể nhận thấy sự thay đổi trong đời sống hàng ngày: con đường bớt bụi, không khí dễ chịu hơn, dòng sông bớt ô nhiễm, rác không còn tồn đọng, tiếng ồn giảm xuống, nước thải được thu gom và xử lý trước khi chảy vào nguồn tiếp nhận. Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã đặt yêu cầu bảo vệ môi trường gắn với chất lượng môi trường và sức khỏe cộng đồng trong hệ thống pháp luật hiện hành.
Từ góc nhìn đó, TS. Bùi thị An nhấn mạnh: Quản trị môi trường đô thị cần chuyển từ câu hỏi đã xử lý được bao nhiêu nguồn thải sang câu hỏi rộng hơn: Chất lượng không gian sống của người dân đã thay đổi như thế nào? Khi câu hỏi ấy trở thành một tiêu chí quan trọng trong quy hoạch, đầu tư và đánh giá hiệu quả quản lý, hoạt động bảo vệ môi trường sẽ không còn là phần việc đi sau quá trình phát triển đô thị, mà diễn ra thường xuyên, liên tục, trở thành một điều kiện của chính sự phát triển đó.
“
Khi câu hỏi "Chất lượng không gian sống của người dân đã thay đổi như thế nào?" trở thành một tiêu chí quan trọng trong quy hoạch, đầu tư và đánh giá hiệu quả quản lý, hoạt động bảo vệ môi trường sẽ không còn là phần việc đi sau quá trình phát triển đô thị, mà diễn ra thường xuyên, liên tục, trở thành điều kiện của chính sự phát triển đó.
PGS.TS. Bùi Thị An
Viện trưởng Viện Tài nguyên - Môi trường và Phát triển cộng đồng