Hà Nội tăng cường phối hợp liên vùng, kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm không khí

Bảo vệ môi trường - Ngày đăng : 15:17, 05/11/2026

Trước áp lực ô nhiễm không khí ngày càng lớn, Hà Nội đang thúc đẩy cơ chế phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các địa phương lân cận. Trọng tâm là kiểm soát nguồn phát thải, kết nối dữ liệu quan trắc, nâng cao năng lực dự báo và chủ động triển khai các biện pháp ứng phó trên phạm vi liên tỉnh.
Bảo vệ môi trường

Hà Nội tăng cường phối hợp liên vùng, kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm không khí

Hải Đăng • {Ngày xuất bản}

Trước áp lực ô nhiễm không khí ngày càng lớn, Hà Nội đang thúc đẩy cơ chế phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các địa phương lân cận. Trọng tâm là kiểm soát nguồn phát thải, kết nối dữ liệu quan trắc, nâng cao năng lực dự báo và chủ động triển khai các biện pháp ứng phó trên phạm vi liên tỉnh.

Hoàn thiện cơ chế phối hợp, tăng cường quản lý môi trường

Sau khi ban hành Kế hoạch số 400/KH-UBND về tăng cường các giải pháp kiểm soát và ứng phó ô nhiễm không khí, lãnh đạo UBND thành phố Hà Nội đã có buổi làm việc với lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhằm trao đổi, thống nhất các giải pháp tháo gỡ những khó khăn trong công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là vấn đề chất lượng không khí.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, ngày 8/4/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Văn bản số 3413/BNNMT-MT gửi UBND thành phố, đề nghị rà soát, hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn và định mức kinh tế - kỹ thuật về môi trường. Đây là cơ sở kỹ thuật quan trọng để địa phương triển khai thống nhất các chương trình, dự án bảo vệ môi trường.

capture(8).jpg
Ảnh minh họa

Cùng với đó, những yêu cầu về bảo vệ môi trường nghiêm ngặt hơn và cơ chế phối hợp giữa các địa phương trong vùng Thủ đô đã được nghiên cứu, đưa vào Luật Thủ đô năm 2026 tại Điều 30.

Ngày 9/4/2026, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 1804/QĐ-UBND về chương trình hành động xử lý ô nhiễm môi trường giai đoạn 2026-2030 và những năm tiếp theo. Chương trình tập trung giải quyết các vấn đề tồn tại trong ba lĩnh vực trọng tâm gồm môi trường không khí, môi trường nước và chất thải rắn, với phương châm triển khai “6 rõ”.

Trong quá trình thực hiện, Hà Nội cũng phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường để nhận được hướng dẫn, góp ý chuyên môn về việc triển khai Luật Thủ đô năm 2026 cũng như các chính sách, quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường.

Đáng chú ý, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội đã phối hợp với Bộ và 5 tỉnh, thành phố trong vùng Thủ đô gồm Phú Thọ, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hưng Yên và Thái Nguyên xây dựng, ban hành Quy chế phối hợp vùng Thủ đô trong quản lý môi trường số 01/QC-PH ngày 4/6/2026.

Thành phố cũng lấy ý kiến chuyên môn đối với Nghị quyết của HĐND thành phố về mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp, khí thải công nghiệp và hoạt động quan trắc tự động, liên tục tại một số loại hình sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm. Nội dung này đã được thông qua tại Nghị quyết số 61/2026/NQ-HĐND ngày 15/6/2026.

Bên cạnh đó, các dự thảo chính sách về áp dụng những biện pháp bảo vệ môi trường nghiêm ngặt hơn quy định của Trung ương và Đề án phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tiếp tục được hoàn thiện trên cơ sở tiếp thu ý kiến của Bộ.

Giao thông, bụi đường và xây dựng là những nguồn thải đáng chú ý

Kết quả nghiên cứu về ô nhiễm không khí tại Hà Nội giai đoạn 2023-2025 do Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện cho thấy bụi mịn PM2.5 phát sinh từ nhiều nhóm nguồn khác nhau.

Trong đó, bụi thứ cấp hình thành từ các khí ô nhiễm chiếm tỷ trọng lớn nhất với 27%. Giao thông vận tải đóng góp 23%; hoạt động xây dựng và bụi đường chiếm 20%; đốt mở, bao gồm đốt rác và phụ phẩm nông nghiệp, chiếm 12%; công nghiệp chiếm 10%. Các nguồn còn lại đóng góp khoảng 8%.

Một kết quả kiểm kê khí thải khác do Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội thực hiện trong năm 2025, đối với các thông số PM10, PM2.5, NO2, SO2 và CO, cũng cho thấy vai trò đáng kể của hoạt động giao thông và bụi phát sinh trên đường phố.

Theo kết quả này, bụi cuốn từ đường giao thông chiếm 41,5% tổng lượng PM2.5; giao thông vận tải đóng góp 35%, trong đó khí thải từ ống xả phương tiện giao thông đường bộ chiếm 34,4%. Hoạt động xây dựng chiếm 8,8%; đốt nhiên liệu trong khu vực dân sinh và thương mại chiếm 3,7%; đốt nhiên liệu công nghiệp và đốt chất thải rắn có kiểm soát chiếm 3,6%. Phần còn lại đến từ các nguồn khác.

Dù tỷ trọng đóng góp giữa các nhóm nguồn có sự khác biệt trong hai kết quả nghiên cứu, tùy thuộc vào phương pháp đánh giá, phạm vi kiểm kê và cách phân loại, cả hai đều chỉ ra ba nhóm cần được ưu tiên kiểm soát là giao thông, bụi đường và hoạt động xây dựng.

Đây cũng là những lĩnh vực đòi hỏi sự phối hợp thường xuyên giữa cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan nhằm hạn chế phát thải, giảm phát tán bụi ra môi trường không khí.

Đẩy mạnh quan trắc, dự báo và phối hợp ứng phó ô nhiễm liên tỉnh

Từ giữa tháng 7/2026, Cục Môi trường thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã làm việc với Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội để xây dựng kế hoạch phối hợp quản lý chất lượng không khí, tập trung vào bốn nhóm nhiệm vụ chính.

Trước hết là đầu tư, nâng cấp hệ thống quan trắc, tích hợp dữ liệu và phát triển năng lực dự báo, cảnh báo ô nhiễm không khí cho Hà Nội và các khu vực lân cận.

Thứ hai là tăng cường phối hợp quản lý, ứng phó với tình trạng ô nhiễm không khí có phạm vi liên tỉnh, đặc biệt trong mùa ô nhiễm năm 2026. Nhóm nhiệm vụ thứ ba tập trung vào lộ trình áp dụng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải đối với xe mô tô, xe máy tham gia giao thông đường bộ. Cuối cùng là triển khai các nội dung thuộc Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất lượng không khí giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Tiếp tục thực hiện Quy chế phối hợp vùng Thủ đô trong quản lý môi trường, ngày 13/10/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội ban hành Văn bản số 14510/SNNMT-QLMT gửi Bộ và các sở chuyên môn của Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, Phú Thọ, Thái Nguyên, Hải Phòng và Quảng Ninh. Văn bản đề nghị các địa phương phối hợp triển khai những biện pháp cấp bách nhằm kiểm soát ô nhiễm không khí trước mùa ô nhiễm.

Song song với đó, dự thảo Quy trình phối hợp vùng về kích hoạt và ứng phó ô nhiễm không khí cũng được gửi lấy ý kiến. Mục tiêu là thống nhất đầu mối liên lạc, điều kiện kích hoạt phương án ứng phó và trách nhiệm của từng cơ quan, địa phương khi xảy ra các đợt ô nhiễm.

Một nội dung đáng chú ý khác là việc duy trì và thử nghiệm hệ thống dự báo sớm chất lượng không khí HanoiAir. Các thông tin về quan trắc, chỉ số AQI, cảnh báo và khuyến nghị được công khai trên những kênh thông tin của cơ quan quản lý, trong đó có Cổng thông tin môi trường Thủ đô, hệ thống tại cem.gov.vn và ứng dụng VNAIR.

Đặc biệt, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang phối hợp triển khai mô hình dự báo chất lượng không khí cho Hà Nội, do Bộ đặt hàng đơn vị nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Khí tượng thủy văn, môi trường và biển xây dựng.

Theo định hướng của dự thảo, mô hình này sẽ dự báo nồng độ PM2.5 cùng một số chất ô nhiễm khác trong thời hạn 7 ngày, đồng thời cung cấp bản đồ dự báo và thông tin phục vụ công tác cảnh báo. Khi được hoàn thiện và vận hành hiệu quả, đây sẽ là công cụ hỗ trợ cơ quan quản lý nhận diện sớm nguy cơ, chủ động xây dựng phương án ứng phó trước những đợt chất lượng không khí suy giảm.

Ở cấp độ triển khai tại cơ sở, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội đã ban hành văn bản đôn đốc các xã, phường và đơn vị liên quan tăng cường quét, hút bụi; tưới nước, rửa đường; kiểm soát bụi tại công trường xây dựng, phương tiện vận chuyển vật liệu và tình trạng đốt rác, rơm rạ ngoài trời.

Thông qua các hoạt động này, Hà Nội từng bước hình thành cơ chế trao đổi thông tin và phối hợp kỹ thuật với Bộ, các tỉnh trong vùng Thủ đô cũng như một số địa phương lân cận. Đây là nền tảng để kiểm soát nguồn phát thải, nhận diện nguy cơ và tổ chức ứng phó khi ô nhiễm không khí không chỉ giới hạn trong phạm vi một địa phương.

Việc tăng cường phối hợp giữa Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các địa phương lân cận cho thấy yêu cầu quản lý ô nhiễm không khí cần được tiếp cận trên quy mô vùng, thay vì chỉ giới hạn trong địa giới hành chính. Tuy nhiên, hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào khả năng kết nối dữ liệu, dự báo chính xác, kiểm soát thực chất từng nguồn phát thải và trách nhiệm tổ chức thực hiện của các bên liên quan.

Hải Đăng