Bảo vệ môi trường trong tăng trưởng kinh tế: Chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm

Bảo vệ môi trường - Ngày đăng : 11:00, 06/11/2026

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường hướng tới cắt giảm đáng kể thủ tục hành chính, đồng thời đổi mới phương thức quản lý theo hướng tăng cường hậu kiểm, giám sát dựa trên mức độ rủi ro. Yêu cầu xuyên suốt được đặt ra là không để cải cách thủ tục trở thành nguyên nhân làm suy giảm hiệu quả kiểm soát ô nhiễm, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.
Bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường trong tăng trưởng kinh tế: Chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm

Hải Đăng • 06/11/2026 11:00

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường hướng tới cắt giảm đáng kể thủ tục hành chính, đồng thời đổi mới phương thức quản lý theo hướng tăng cường hậu kiểm, giám sát dựa trên mức độ rủi ro. Yêu cầu xuyên suốt được đặt ra là không để cải cách thủ tục trở thành nguyên nhân làm suy giảm hiệu quả kiểm soát ô nhiễm, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.

Bảo vệ môi trường phải song hành với phát triển kinh tế

Trong quá trình hoàn thiện dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có báo cáo gửi đại biểu Quốc hội về việc tiếp thu, giải trình các ý kiến thảo luận tại Tổ. Một trong những nội dung được quan tâm là phương án cắt giảm khoảng 90% đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và thủ tục cấp giấy phép môi trường, cùng với yêu cầu thiết lập cơ chế giám sát phù hợp.

Tại phiên thảo luận ngày 24/10, nhiều đại biểu Quốc hội bày tỏ sự đồng tình với việc sửa đổi luật, đồng thời nhấn mạnh nguyên tắc phát triển kinh tế không thể tách rời nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, trong đó người gây ô nhiễm phải chi trả các chi phí phòng ngừa, xử lý, phục hồi môi trường và bồi thường thiệt hại theo quy định.

eefee.jpg
Ảnh minh họa

Các đại biểu cũng cho rằng, hiệu quả thực thi chính sách môi trường không nên chỉ được nhìn nhận qua số lượng thủ tục hành chính được cắt giảm. Quan trọng hơn là chất lượng môi trường có thực sự được cải thiện hay không, các nguy cơ ô nhiễm có được kiểm soát và những tác động tiêu cực đến đời sống người dân có được hạn chế hay không.

Tiếp thu những ý kiến này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẳng định dự thảo luật tiếp tục kế thừa nguyên tắc tại Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, xác định bảo vệ môi trường là điều kiện, nền tảng, yếu tố trung tâm và tiên quyết đối với phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Đồng thời, hoạt động bảo vệ môi trường phải được tích hợp với phát triển kinh tế và quản lý tài nguyên, được xem xét trong suốt quá trình triển khai các hoạt động phát triển. Đây là cơ sở để bảo đảm việc đơn giản hóa thủ tục hành chính không làm giảm các yêu cầu về phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ hệ sinh thái.

Đáng chú ý, cơ quan soạn thảo dự kiến đưa mức độ cải thiện chất lượng môi trường trở thành một tiêu chí quan trọng trong Bộ chỉ số xếp hạng công tác bảo vệ môi trường cấp tỉnh. Cách tiếp cận này góp phần chuyển trọng tâm đánh giá từ việc hoàn thành thủ tục, nhiệm vụ hành chính sang kết quả thực chất, đồng thời nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương.

Phân loại rủi ro để kiểm soát chặt các nguồn gây ô nhiễm

Việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm là một trong những nội dung quan trọng của dự thảo luật. Tuy nhiên, theo tổng hợp của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, có 20 ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ hơn các cơ chế giám sát khi số lượng đối tượng phải thực hiện ĐTM và cấp giấy phép môi trường dự kiến được cắt giảm khoảng 90%.

Các ý kiến tập trung vào việc phân tầng giám sát theo mức độ rủi ro; xác định cụ thể những đối tượng phải quan trắc môi trường tự động, liên tục; quy định tần suất kiểm tra, điều kiện kiểm tra đột xuất và trách nhiệm của chủ dự án cũng như cơ quan quản lý khi phát hiện dấu hiệu vi phạm.

Yêu cầu đặt ra là giảm bớt những thủ tục không cần thiết nhưng không được hạ thấp tiêu chuẩn bảo vệ môi trường. Việc đơn giản hóa quy trình phải đi kèm với cơ chế kiểm soát đủ mạnh, tránh hình thành khoảng trống quản lý hoặc chuyển những rủi ro ô nhiễm sang cộng đồng dân cư.

Trên cơ sở tiếp thu ý kiến, dự thảo luật được hoàn thiện theo hướng thể chế hóa Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026, lấy tiêu chí môi trường và mức độ rủi ro làm căn cứ phân loại dự án đầu tư. Tùy theo tính chất, nguy cơ tác động, cơ quan quản lý sẽ lựa chọn công cụ phù hợp như ĐTM, giấy phép môi trường, đăng ký môi trường, thanh tra, kiểm tra, giám sát và quan trắc định kỳ hoặc tự động, liên tục.

Cụ thể, những dự án có nguy cơ rủi ro môi trường cao trong giai đoạn thi công hoặc có tác động phi chất thải trong quá trình vận hành sẽ thuộc diện thực hiện ĐTM. Trong khi đó, các dự án, cơ sở có nguy cơ rủi ro cao do chất thải phát sinh trong giai đoạn vận hành sẽ phải thực hiện thủ tục cấp giấy phép môi trường.

Đối với hoạt động quan trắc tự động, liên tục, dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành xác định nhóm đối tượng phải thực hiện gồm các dự án, cơ sở thuộc loại hình có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường với lưu lượng xả thải từ mức trung bình trở lên; cùng những dự án, cơ sở không thuộc loại hình có nguy cơ gây ô nhiễm nhưng có lưu lượng xả thải lớn.

Bên cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền thẩm định ĐTM và cấp giấy phép môi trường sẽ xác định mức độ rủi ro của từng dự án, cơ sở để quyết định việc áp dụng cơ chế giám sát tương ứng. Việc phân tầng giám sát cũng sẽ được quy định cụ thể hơn trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật.

Tăng cường hậu kiểm, không để buông lỏng quản lý

Cùng với việc thay đổi phương thức quản lý, dự thảo luật bổ sung cơ chế giám sát thường xuyên, liên tục đối với các dự án đầu tư và cơ sở sản xuất, kinh doanh có nguy cơ tác động đến môi trường.

Hoạt động giám sát sẽ được triển khai dựa trên thông tin, dữ liệu môi trường, ứng dụng công nghệ số và kết quả đánh giá thực tế tại hiện trường. Qua đó, cơ quan chức năng có thể sớm nhận diện những dấu hiệu bất thường, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường, từ đó chủ động triển khai biện pháp phòng ngừa.

Đối với công tác thanh tra, kiểm tra, dự thảo luật quy định một số nội dung đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả phát hiện, xử lý vi phạm. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan chức năng có thể tiến hành thanh tra, kiểm tra đột xuất không công bố trước; trưng cầu các tổ chức có chức năng thực hiện giám định, kiểm định, quan trắc, đo đạc và phân tích mẫu môi trường.

Khi phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc hành vi vi phạm có liên quan đến tội phạm môi trường, việc phối hợp với lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường cũng được đặt ra để kịp thời xử lý theo quy định.

Một điểm đáng chú ý khác là thời hạn giấy phép môi trường đối với các dự án, cơ sở thuộc loại hình có nguy cơ gây ô nhiễm được đề xuất rút ngắn còn 7 năm, thay vì thời hạn thông thường 10 năm. Quy định này nhằm tạo điều kiện để cơ quan quản lý định kỳ kiểm tra, đánh giá lại hiệu quả vận hành của các công trình bảo vệ môi trường, qua đó kịp thời phát hiện những bất cập trong quá trình hoạt động.

Đối với các đối tượng được miễn, giảm thủ tục ĐTM và giấy phép môi trường, dự thảo luật chuyển sang hình thức đăng ký môi trường tại UBND cấp tỉnh hoặc UBND cấp xã. Theo đó, chủ dự án, cơ sở có trách nhiệm tự kê khai, báo cáo và chịu trách nhiệm về việc tuân thủ các quy định pháp luật liên quan. Cơ quan tiếp nhận đăng ký cũng được giao thêm trách nhiệm kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện.

Có thể thấy, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm không đơn thuần là thay đổi trình tự thực hiện thủ tục hành chính mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện phương thức quản lý môi trường. Khi các thủ tục được tinh giản, năng lực giám sát, khả năng nhận diện rủi ro và hiệu quả xử lý vi phạm cần được nâng lên tương ứng.

Đây cũng là điều kiện để khơi thông nguồn lực đầu tư, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, nhưng vẫn phải bảo đảm nguyên tắc phát triển đi đôi với bảo vệ môi trường. Chất lượng môi trường và sự an toàn của cộng đồng cần tiếp tục là thước đo quan trọng đối với hiệu quả của quá trình phát triển.

Hải Đăng