Nguyên tắc bỏ phiếu và xác định người trúng cử theo Luật Bầu cử
Cuộc sống xanh - Ngày đăng : 13:00, 05/03/2026
Nguyên tắc bỏ phiếu và xác định người trúng cử theo Luật Bầu cử
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định rõ ràng về nguyên tắc bỏ phiếu, quy trình kiểm phiếu, công bố kết quả và xác nhận tư cách người trúng cử, bảo đảm tính dân chủ, công khai và minh bạch của cuộc bầu cử.
Mỗi cử tri một phiếu, trực tiếp thực hiện quyền bầu cử
Theo Điều 69 của Luật, mỗi cử tri được quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội và một phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân tương ứng với từng cấp. Cử tri phải trực tiếp đi bầu và không được nhờ người khác bầu thay, trừ những trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật. Khi tham gia bỏ phiếu, cử tri phải xuất trình thẻ cử tri.

Trường hợp cử tri không thể tự viết phiếu bầu thì được nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu vào hòm phiếu; người viết hộ có trách nhiệm bảo đảm giữ bí mật nội dung phiếu bầu. Đối với cử tri ốm đau, già yếu hoặc khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu, Tổ bầu cử sẽ mang hòm phiếu phụ đến nơi ở hoặc nơi điều trị để cử tri thực hiện quyền bầu cử.
Theo Điều 71, thời gian bỏ phiếu được tiến hành từ 7 giờ đến 19 giờ cùng ngày bầu cử. Trong trường hợp cần thiết, việc bỏ phiếu có thể bắt đầu sớm hơn nhưng không trước 5 giờ và kết thúc muộn hơn nhưng không quá 21 giờ. Quá trình bỏ phiếu phải được tiến hành liên tục. Nếu xảy ra sự cố bất ngờ làm gián đoạn, Tổ bầu cử phải niêm phong hòm phiếu và báo cáo Ban bầu cử để xử lý theo thẩm quyền.
Kiểm phiếu công khai, có sự chứng kiến của cử tri
Điều 73 quy định việc kiểm phiếu được thực hiện ngay tại phòng bỏ phiếu sau khi kết thúc thời gian bỏ phiếu. Quá trình kiểm phiếu phải có sự chứng kiến của ít nhất hai cử tri không phải là người ứng cử. Ngoài ra, người ứng cử, đại diện cơ quan, tổ chức giới thiệu người ứng cử và phóng viên báo chí cũng có quyền chứng kiến việc kiểm phiếu.
Theo Điều 74, các trường hợp phiếu bầu không hợp lệ bao gồm: phiếu không theo mẫu quy định; phiếu không có dấu của Tổ bầu cử; phiếu bầu quá số lượng đại biểu được bầu; phiếu gạch xóa hết tên người ứng cử; phiếu ghi thêm tên ngoài danh sách ứng cử hoặc có nội dung khác.
Sau khi hoàn tất kiểm phiếu, Tổ bầu cử phải lập biên bản theo quy định tại Điều 76. Biên bản phải ghi đầy đủ các nội dung như: tổng số cử tri trong danh sách; số cử tri đã tham gia bỏ phiếu; số phiếu phát ra và thu vào; số phiếu hợp lệ, không hợp lệ; số phiếu bầu cho từng người ứng cử; cùng tình hình khiếu nại, tố cáo (nếu có).
Công nhận và công bố kết quả bầu cử
Theo Điều 78, kết quả bầu cử chỉ được công nhận khi có quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách tham gia bỏ phiếu. Người trúng cử phải đạt quá một nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ.
Trong trường hợp số người đạt quá một nửa số phiếu hợp lệ nhiều hơn số đại biểu được bầu, những người trúng cử sẽ được xác định theo số phiếu từ cao xuống thấp. Nếu có nhiều người bằng phiếu ở vị trí cuối cùng, người nhiều tuổi hơn sẽ được xác định trúng cử.
Đối với các trường hợp phải tổ chức bầu cử thêm hoặc bầu cử lại, Luật quy định thời hạn tổ chức chậm nhất là 7 ngày sau ngày bầu cử đầu tiên (Điều 79 và Điều 80).
Theo Điều 86, Hội đồng Bầu cử quốc gia công bố kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội chậm nhất 10 ngày sau ngày bầu cử. Ủy ban bầu cử các cấp cũng công bố kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong cùng thời hạn.
Trong trường hợp có khiếu nại về kết quả bầu cử, đơn khiếu nại phải được gửi trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày công bố kết quả. Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm giải quyết trong vòng 7 ngày và quyết định giải quyết là quyết định cuối cùng theo quy định tại Điều 87.
Luật cũng quy định việc xác nhận tư cách người trúng cử và cấp giấy chứng nhận đại biểu khóa mới sau khi hoàn tất việc tổng kết bầu cử, đồng thời giải quyết xong các khiếu nại, tố cáo liên quan theo quy định tại Điều 88.
