Vụ gian lận dữ liệu môi trường: Ai phải chịu trách nhiệm khi dữ liệu môi trường bị làm sai lệch? (Kỳ 4)
Môi trường - Tài nguyên - Ngày đăng : 16:34, 09/04/2026
Vụ việc làm sai lệch dữ liệu quan trắc môi trường đang đặt ra nhiều vấn đề pháp lý và quản trị đáng chú ý, đặc biệt là việc xác định rõ trách nhiệm của các bên liên quan. Từ doanh nghiệp xả thải, đơn vị cung cấp thiết bị đến cơ quan quản lý và cá nhân thực thi, câu hỏi “ai phải chịu trách nhiệm” không chỉ dừng lại ở xử lý vi phạm, mà còn gắn với yêu cầu hoàn thiện cơ chế giám sát và bảo đảm tính minh bạch trong quản lý môi trường.
Môi trường - Tài nguyên
Vụ gian lận dữ liệu môi trường: Ai phải chịu trách nhiệm khi dữ liệu môi trường bị làm sai lệch? (Kỳ 4)
Mai Hương•{Ngày xuất bản}
Vụ việc làm sai lệch dữ liệu quan trắc môi trường đang đặt ra nhiều vấn đề pháp lý và quản trị đáng chú ý, đặc biệt là việc xác định rõ trách nhiệm của các bên liên quan. Từ doanh nghiệp xả thải, đơn vị cung cấp thiết bị đến cơ quan quản lý và cá nhân thực thi, câu hỏi “ai phải chịu trách nhiệm” không chỉ dừng lại ở xử lý vi phạm, mà còn gắn với yêu cầu hoàn thiện cơ chế giám sát và bảo đảm tính minh bạch trong quản lý môi trường.
Hàng loạt bị can đã bị khởi tố, trong đó có cả lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp lớn và đơn vị cung cấp thiết bị. Diễn biến vụ án làm sai lệch dữ liệu quan trắc môi trường đang dần hé lộ một thực tế đáng lo ngại: những con số vốn được xem là “thước đo trung thực” của môi trường hoàn toàn có thể bị can thiệp một cách có hệ thống.
Theo cơ quan chức năng, trong hơn 300 trạm quan trắc được kiểm tra trên toàn quốc, có tới gần 55% số trạm bị chỉnh sửa, “phù phép” số liệu. Những thông số đáng lẽ phải phản ánh đúng tình trạng ô nhiễm lại bị biến thành các chỉ số “đạt chuẩn”, tạo ra một bức tranh môi trường giả tạo, qua đó che giấu hành vi xả thải kéo dài tại nhiều doanh nghiệp lớn.
Đáng chú ý, sai phạm không chỉ xuất phát từ phía doanh nghiệp xả thải, mà còn liên quan đến các đơn vị cung cấp thiết bị, thậm chí cả cán bộ, lãnh đạo trong cơ quan quản lý. Khi dữ liệu môi trường, nền tảng của toàn bộ hoạt động giám sát bị bóp méo ngay từ đầu vào, vấn đề đặt ra không còn là một hành vi vi phạm đơn lẻ.
Đó là câu chuyện của trách nhiệm đa tầng, nơi mỗi mắt xích trong hệ thống từ vận hành, công nghệ đến quản lý đều có thể góp phần tạo ra hoặc ngăn chặn sai phạm. Và khi sự thật bị làm sai lệch, câu hỏi lớn nhất không chỉ là ai sai, mà là ai phải chịu trách nhiệm và chịu trách nhiệm đến đâu.
Doanh nghiệp Chủ động gian lận để giảm chi phí, che giấu vi phạm xả thải
Kết quả điều tra của cơ quan chức năng cho thấy, trong vụ án làm sai lệch dữ liệu quan trắc môi trường, nhiều doanh nghiệp không chỉ vi phạm một cách bị động mà đã chủ động tổ chức việc can thiệp, chỉnh sửa số liệu nhằm duy trì hoạt động sản xuất và tránh các chế tài xử lý.
Cơ quan điều tra xác định, trong số hơn 300 trạm quan trắc môi trường trên toàn quốc bị kiểm tra, có gần 160 trạm bị can thiệp thông qua phần mềm hoặc điều chỉnh cấu hình thiết bị, với mục đích làm giảm chỉ số xả thải. Các hành vi này tập trung tại nhiều doanh nghiệp có nguồn phát thải lớn như Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh, Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng, Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình, cùng các doanh nghiệp sản xuất nhôm, thép và cả những đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xử lý môi trường.
Điển hình, tại Công ty Cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh, cơ quan điều tra làm rõ doanh nghiệp này vận hành 3 trạm quan trắc khí thải. Thông qua việc sử dụng phần mềm can thiệp, các đối tượng đã điều chỉnh thông số đầu ra, làm giảm chỉ số khí thải xuống còn một nửa, thậm chí chỉ còn 1/3 so với thực tế, nhằm bảo đảm dữ liệu truyền về cơ quan quản lý luôn nằm trong ngưỡng cho phép.
Liên quan đến hành vi này, các bị can gồm Lê Việt Cường (Phó Tổng Giám đốc), Nguyễn Văn Trung (Phó quản đốc phân xưởng vận hành trạm quan trắc) và Lương Công Bính (chuyên viên Phòng Kỹ thuật và An toàn) đã bị khởi tố về tội Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức. Tại cơ quan điều tra, ông Lê Việt Cường thừa nhận doanh nghiệp đã thực hiện điều chỉnh hệ số khí thải nhằm đáp ứng tiêu chuẩn khi truyền dữ liệu về Sở Nông nghiệp và Môi trường.
Tương tự, tại Công ty TNHH MTV Liên hợp Khoa học - Công nghệ - Môi trường Biwase, một doanh nghiệp được đánh giá có công nghệ xử lý chất thải hiện đại, cơ quan điều tra cũng phát hiện hành vi can thiệp dữ liệu quan trắc. Theo đó, do lo ngại chỉ số khí thải vượt ngưỡng có thể dẫn đến bị xử phạt hoặc đình chỉ hoạt động, lãnh đạo công ty đã chủ động tìm cách duy trì các thông số “đạt chuẩn”.
Cụ thể, Phạm Thanh Hùng (Phó Tổng Giám đốc) khai nhận đã chỉ đạo nhân viên liên hệ với Công ty Cổ phần Kỹ thuật Môi trường Việt An để tìm giải pháp can thiệp dữ liệu. Kết quả, số liệu quan trắc truyền về cơ quan quản lý luôn được điều chỉnh để không vượt quy chuẩn kỹ thuật.
“
Hơn 300 trạm quan trắc môi trường trên toàn quốc bị kiểm tra, có gần 160 trạm bị can thiệp thông qua phần mềm hoặc điều chỉnh cấu hình thiết bị, với mục đích làm giảm chỉ số xả thải.
Liên quan vụ việc này, cơ quan điều tra đã khởi tố 6 cán bộ của Biwase, gồm: Ngô Chí Thắng (Giám đốc), Phạm Thanh Hùng (Phó Giám đốc), Nguyễn Hoàng Lân (Phó Giám đốc), Lê Quang Lập (Quản đốc nhà máy), Nguyễn Trung Khiêm (Phó quản đốc) và Nguyễn Tấn Lâm (nhân viên kỹ thuật).
Những diễn biến trên cho thấy một thực tế đáng lo ngại, thay vì đầu tư nâng cấp hệ thống xử lý chất thải để đáp ứng quy chuẩn, một số doanh nghiệp đã lựa chọn cách “làm sạch dữ liệu” thay vì làm sạch môi trường.
Hành vi này không chỉ giúp doanh nghiệp giảm chi phí vận hành trong ngắn hạn mà còn che giấu vi phạm xả thải trong thời gian dài, khiến cơ quan quản lý không phát hiện được nguy cơ ô nhiễm. Khi các thông số bị làm đẹp, toàn bộ hệ thống giám sát môi trường có thể bị vô hiệu hóa ngay từ khâu đầu vào.
Từ vụ án có thể thấy, động cơ kinh tế đã trở thành yếu tố thúc đẩy hành vi vi phạm. Trong nhiều trường hợp, việc can thiệp dữ liệu không còn là hành động cá nhân mà có dấu hiệu tổ chức, với sự tham gia của nhiều cấp trong doanh nghiệp.
Theo GS. Hoàng Xuân Cơ, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu quan trắc và mô hình hóa môi trường (Đại học Khoa học Tự nhiên), hệ thống quan trắc tự động về nguyên tắc rất khó bị thao túng nếu vận hành đúng, nhưng thực tế vẫn bị can thiệp do yếu tố chi phí.
“Nếu cắt giảm các công đoạn xử lý, doanh nghiệp có thể tiết kiệm đáng kể chi phí. Khi đó, việc làm đẹp số liệu trở thành cách hợp thức hóa phần chi phí bị cắt giảm. Nói cách khác, gian lận không phải vì thiếu công nghệ, mà vì gian lận rẻ hơn tuân thủ”, ông Cơ nhận định.
Điều này cho thấy, thay vì đầu tư xử lý ô nhiễm, một số doanh nghiệp đã chọn cách xử lý số liệu để đối phó, đặc biệt trong các ngành có nguồn phát thải lớn và áp lực vận hành cao.
Từ nhà cung cấp giải pháp kỹ thuật đến tiếp tay cho sai phạm
Không chỉ dừng lại ở phía doanh nghiệp, kết quả điều tra cho thấy vai trò đáng chú ý của các đơn vị cung cấp thiết bị và giải pháp quan trắc, những bên lẽ ra phải bảo đảm tính chính xác và toàn vẹn của dữ liệu môi trường.
Từ kết quả điều tra, vai trò của các đơn vị cung cấp thiết bị quan trắc không còn dừng ở nghi vấn, mà bước đầu đã lộ rõ dấu hiệu trực tiếp hỗ trợ doanh nghiệp can thiệp dữ liệu. Một số doanh nghiệp cung cấp hệ thống quan trắc không chỉ lắp đặt thiết bị mà còn tham gia vào quá trình điều chỉnh số liệu.
Cơ quan điều tra xác định Công ty Cổ phần Kỹ thuật Môi trường Việt An - đơn vị chiếm hơn 50% thị phần cung cấp hệ thống quan trắc trên cả nước không chỉ cung cấp thiết bị mà còn tham gia vào quá trình làm sai lệch số liệu. Liên quan vụ án, Nguyễn Hoài Thi (Chủ tịch HĐQT) và Nguyễn Hoài Bách (Giám đốc kinh doanh) đã bị khởi tố về các tội Xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, phương tiện điện tử của người khác và Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Tại cơ quan điều tra, ông Nguyễn Hoài Thi khai việc chỉnh sửa số liệu “không khó”, chỉ cần thay đổi cấu hình thiết bị phân tích hoặc can thiệp vào hệ thống truyền - nhận dữ liệu. Theo lời khai này, hầu hết các thiết bị đo đều có thể bị chỉnh sửa nếu bị tác động.
Không dừng lại ở việc cung cấp thiết bị, doanh nghiệp này còn hướng dẫn khách hàng vận hành, điều chỉnh thông số, tạo điều kiện cho việc can thiệp trong quá trình sử dụng. Các thủ đoạn được thực hiện từ can thiệp trực tiếp vào hệ thống hút mẫu, thiết bị phân tích đến sử dụng phần mềm điều khiển từ xa để chỉnh sửa dữ liệu trước khi truyền về cơ quan quản lý. Điều này cho thấy, việc “phù phép” số liệu không phải hành vi riêng lẻ, mà có dấu hiệu phối hợp giữa doanh nghiệp và đơn vị cung cấp giải pháp.
Theo GS.TS Đặng Kim Chi (nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Môi trường, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội), bên cạnh doanh nghiệp xả thải, đơn vị cung cấp thiết bị và thực hiện quan trắc giữ vai trò then chốt trong việc đảm bảo tính trung thực của dữ liệu môi trường. Tuy nhiên, thực tế cho thấy một bộ phận đơn vị đã bị chi phối bởi lợi ích kinh tế, dẫn đến nguy cơ “bắt tay” với doanh nghiệp để can thiệp, điều chỉnh thông số quan trắc theo hướng có lợi.
Cơ chế thị trường thiếu kiểm soát đã vô hình trung tạo áp lực ngược lên các đơn vị này. Trong nhiều trường hợp, nếu trả kết quả đúng thực tế, tức là vượt ngưỡng cho phép doanh nghiệp có thể từ chối hợp tác, chuyển sang thuê đơn vị khác “linh hoạt” hơn. Điều này khiến một số đơn vị quan trắc, cung cấp thiết bị rơi vào vòng xoáy cạnh tranh không lành mạnh, buộc phải đánh đổi tính chính xác của số liệu để giữ hợp đồng.
GS.TS Đặng Kim Chi nhấn mạnh, trách nhiệm của đơn vị cung cấp thiết bị không chỉ dừng ở việc lắp đặt hay vận hành, mà còn bao gồm việc đảm bảo tính độc lập, khách quan của toàn bộ quá trình thu thập và truyền dữ liệu. Việc tham gia hoặc tiếp tay cho hành vi làm sai lệch số liệu không chỉ vi phạm đạo đức nghề nghiệp mà còn trực tiếp góp phần làm “mù” hệ thống giám sát môi trường.
Để khắc phục, theo chuyên gia, cần tách bạch rõ ràng mối quan hệ lợi ích giữa đơn vị quan trắc và doanh nghiệp xả thải. Một trong những giải pháp quan trọng là thiết lập cơ chế tài chính trung gian (quỹ chung), qua đó các đơn vị cung cấp thiết bị, quan trắc được chi trả độc lập, không phụ thuộc trực tiếp vào doanh nghiệp. Đồng thời, cần có cơ chế kiểm định chéo, đánh giá chất lượng thiết bị và dữ liệu từ các bên thứ ba nhằm hạn chế tối đa nguy cơ gian lận.
Trong bối cảnh công nghệ ngày càng hiện đại, chuyên gia cho rằng yếu tố con người vẫn mang tính quyết định. Vì vậy, việc nâng cao chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, siết chặt trách nhiệm và chế tài đối với các đơn vị cung cấp thiết bị là điều kiện tiên quyết để bảo vệ tính minh bạch của hệ thống quan trắc môi trường.
Cùng trả lời về vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Lữ Phương, Phó Trưởng Khoa Môi trường, Trường Đại Học Tài Nguyên và Môi Trường TP.HCM cho rằng, đơn vị quan trắc là đơn vị phải đảm bảo chất lượng dữ liệu, tuy nhiên họ lại là người đóng góp chính vào sai phạm khi cài đặt các backdoor, tức là các cổng đầu ra để có thể can thiệp trên máy tính.
Thực ra dữ liệu từ các đầu đo sẽ chuyển vào máy tính và từ máy tính truyền dữ liệu về trung tâm quan trắc của Sở Tài nguyên và môi trường trước kia, hiện nay là Sở nông nghiệp và môi trường. Dựa trên các backdoor đó, họ có thể can thiệp ngay trên máy tính, rồi từ máy tính tại trạm quan trắc mới chuyển về trung tâm, như vậy dữ liệu đã bị can thiệp.
Ngoài ra, một số công ty có các phần mềm riêng, khi xâm nhập vào hệ thống dữ liệu, họ sử dụng phần mềm đó để chuyển dữ liệu đã được chỉnh sửa về trung tâm quan trắc. Đây là cách can thiệp của họ.
Điều này dẫn tới việc cơ quan quản lý chỉ giám sát được bên ngoài, thiếu các biện pháp quản lý bên trong. Nhiều khi việc kiểm tra chỉ mang tính sơ bộ. Thông thường, các khu công nghiệp hay nhà máy đều có hồ sơ giấy phép môi trường, các đoàn kiểm tra thường tập trung vào cảm biến, dung dịch chuẩn, niêm phong thiết bị, nhưng lại không có chuyên môn sâu về an ninh mạng hoặc kiểm tra phần mềm. Đây là những điểm chưa làm tốt trong công tác quản lý môi trường thời gian vừa qua, dẫn đến các sai sót.
Lỗ hổng giám sát và hậu kiểm từ cơ quan quản lý
Từ vụ án làm sai lệch dữ liệu quan trắc môi trường, một vấn đề nổi lên rõ nét là trách nhiệm của cơ quan quản lý trực tiếp - đặc biệt là Sở Nông nghiệp và Môi trường tại các địa phương.
Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, hệ thống quan trắc được thiết kế theo hướng phân cấp rõ ràng: Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vận hành và bảo đảm tính chính xác của dữ liệu; trong khi đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường là đầu mối tiếp nhận, giám sát, kiểm tra và thực hiện hậu kiểm đối với toàn bộ dữ liệu quan trắc trên địa bàn.
Dữ liệu từ các trạm quan trắc được truyền trực tiếp về cơ quan quản lý theo thời gian thực, đồng thời kết nối về cơ quan cấp trên để phục vụ công tác quản lý. Về nguyên tắc, với cơ chế này, các bất thường về chỉ số xả thải hoàn toàn có thể được phát hiện sớm.
Tuy nhiên, thực tế vụ án cho thấy hàng trăm trạm quan trắc đã bị can thiệp trong thời gian dài nhưng không được phát hiện kịp thời, đặt ra câu hỏi lớn về hiệu quả của công tác giám sát và hậu kiểm từ cơ quan quản lý nhà nước.
Theo ông Nguyễn Xuân Hải, Phó Cục trưởng Cục Môi trường, hệ thống pháp lý và các yêu cầu kỹ thuật hiện nay đã tương đối đầy đủ, từ niêm phong cổng kết nối, quản lý tài khoản truy cập đến kiểm tra định kỳ và quan trắc đối chứng. Vấn đề cốt lõi nằm ở khâu thực thi.
“Các sai phạm vừa qua cho thấy công tác giám sát và hậu kiểm chưa theo kịp thực tiễn, đặc biệt trong bối cảnh số lượng hệ thống quan trắc tăng nhanh và dữ liệu ngày càng lớn”, ông Hải nhận định.
Thực tế cho thấy, việc giám sát hiện nay vẫn có xu hướng phụ thuộc nhiều vào dữ liệu do chính doanh nghiệp cung cấp, trong khi hoạt động kiểm tra đột xuất, kiểm tra đối chứng tại hiện trường và hậu kiểm chưa được thực hiện thường xuyên, sâu sát. Đây chính là “khoảng trống” để các hành vi can thiệp tinh vi có thể diễn ra mà không bị phát hiện.
Trước những lỗ hổng này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã yêu cầu các địa phương siết chặt toàn bộ quy trình giám sát, từ kiểm soát truy cập hệ thống, quản lý thiết bị truyền dữ liệu đến tăng cường kiểm tra đột xuất và đối chiếu với nguồn dữ liệu độc lập. Đồng thời, công tác hậu kiểm sẽ được đẩy mạnh, tập trung vào các cơ sở có dấu hiệu bất thường hoặc có nguy cơ phát thải lớn.
Vấn đề đặt ra là, trong hệ thống kiểm soát nhiều lớp, Sở Nông nghiệp và Môi trường chính là “tuyến phòng thủ trực tiếp”. Nếu khâu giám sát và hậu kiểm không được thực hiện thực chất, thì dù quy định có chặt chẽ đến đâu, dữ liệu môi trường vẫn có thể bị làm sai lệch ngay trước mắt cơ quan quản lý.
Khi quyền lực bị lợi dụng và đạo đức công vụ bị bẻ cong
Diễn biến điều tra cho thấy, trách nhiệm cá nhân trong vụ án không còn là vấn đề riêng lẻ mà đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi sai phạm mang tính hệ thống, với sự tham gia của cả cán bộ quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp.
Thông tin tại họp báo ngày 3/4/2026, Thiếu tướng Lê Văn Tân – Phó Chánh Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra (C01, Bộ Công an) cho biết, trong vụ án xảy ra tại Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc (Tổng cục Môi trường, nay là Cục Môi trường), Công ty Seiki, Công ty Deahan và các đơn vị liên quan, cơ quan điều tra đã khởi tố 11 bị can về các tội: Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng; đưa hối lộ và nhận hối lộ.
Cựu Cục trưởng Cục Môi trường Hoàng Văn Thức bị khởi tố với cáo buộc liên quan đến sai phạm về quan trắc môi trường
Đáng chú ý, Hoàng Văn Thức – Cục trưởng Cục Môi trường và Trần Thị Minh Hương – Giám đốc Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc bị khởi tố không chỉ về vi phạm quy định đấu thầu mà còn về hành vi nhận hối lộ. Trong khi đó, Đậu Tuấn Anh – Chủ tịch HĐQT Công ty Seiki bị khởi tố về vi phạm quy định đấu thầu và hành vi đưa hối lộ. Cùng vụ án, hàng loạt lãnh đạo, cán bộ doanh nghiệp khác cũng bị xử lý, gồm Nguyễn Phan Dũng, Bùi Thị Phúc (Công ty Seiki), Đào Như Ý, Bùi Thị Hà Phương (Công ty Deahan), cùng các cá nhân tại Công ty Toàn Cầu, Nhân Tâm Việt, Coninco…
Không dừng lại ở sai phạm trong đấu thầu, cơ quan điều tra còn làm rõ hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ tại Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc. Trong giai đoạn 2021–2024, Trần Thị Minh Hương cùng các cá nhân Phạm Quang Hiếu và Hồ Minh Tráng đã chỉ đạo lập khống hồ sơ, chứng từ để rút hơn 5,5 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước. Sau khi hợp thức hóa chi phí, số tiền chênh lệch hơn 2,6 tỷ đồng được đưa vào quỹ chung để chia chác, hưởng lợi. Các cá nhân này đã bị khởi tố bổ sung về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
Những diễn biến trên cho thấy một thực tế đáng lo ngại: khi quyền lực không được kiểm soát chặt chẽ, chính những người giữ vai trò giám sát lại có thể trở thành tác nhân làm suy yếu hệ thống. Hành vi làm sai lệch dữ liệu, hợp thức hóa hồ sơ hay trục lợi ngân sách không chỉ là vi phạm pháp luật mà còn là biểu hiện của sự suy giảm đạo đức công vụ.
Vì vậy, bên cạnh việc xử lý hình sự các cá nhân vi phạm, yêu cầu đặt ra là phải siết chặt kỷ luật, minh bạch hóa trách nhiệm và tăng cường kiểm soát quyền lực trong bộ máy thực thi. Chỉ khi trách nhiệm cá nhân được xác lập rõ ràng và được giám sát chặt chẽ, mới có thể ngăn chặn nguy cơ tái diễn những sai phạm tương tự.
Làm sai lệch dữ liệu quan trắc không chỉ là gian lận kỹ thuật
Trao đổi dưới góc độ pháp lý về vụ việc với Tạp chí Môi trường và Cuộc sống, Luật sư Nguyễn Hồng Thái – Công ty Luật TNHH Quốc tế Hồng Thái và Đồng Nghiệp cho rằng, để hiểu đúng bản chất, trước hết cần làm rõ khái niệm dữ liệu quan trắc môi trường.
Theo đó, dữ liệu quan trắc môi trường là tập hợp các thông tin, số liệu, hình ảnh hoặc tín hiệu được thu thập thông qua hoạt động đo lường định kỳ hoặc liên tục các thành phần môi trường như không khí, nước, đất. Dữ liệu này có thể được thu thập thủ công hoặc tự động từ các trạm quan trắc và truyền trực tiếp về cơ quan quản lý nhà nước, đóng vai trò nền tảng cho toàn bộ hệ thống giám sát.
Từ góc độ pháp lý, hành vi can thiệp, chỉnh sửa dữ liệu quan trắc thực chất là làm sai lệch thông tin do cơ quan nhà nước quản lý. Việc “làm đẹp số liệu” thường được thực hiện bằng cách điều chỉnh thông số trước khi truyền dữ liệu, biến các chỉ số vượt ngưỡng thành đạt chuẩn nhằm che giấu vi phạm xả thải. Theo Luật sư Nguyễn Hồng Thái, hành vi này có thể bị xem xét xử lý về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015, tùy mức độ vi phạm.
Trong trường hợp có yếu tố lợi ích vật chất, các bên liên quan còn có thể bị xử lý thêm về các tội đưa hối lộ và nhận hối lộ. Điều này cho thấy một hành vi mang tính “kỹ thuật” nhưng có thể kéo theo hệ quả pháp lý rất nghiêm trọng.
Đánh giá về mức độ nguy hiểm, Luật sư Nguyễn Hồng Thái nhận định, đây là loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng vì không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn làm “vô hiệu hóa” hoạt động quản lý nhà nước. Khi dữ liệu bị sai lệch, cơ quan quản lý không thể phát hiện vi phạm, không thể cảnh báo rủi ro, thậm chí ban hành chính sách thiếu chính xác. Nếu dữ liệu bị can thiệp ngay từ cấp cơ sở, toàn bộ hệ thống phía trên gần như “mù thông tin”.
Về khó khăn trong điều tra, luật sư cho biết ranh giới giữa lỗi kỹ thuật và hành vi cố ý can thiệp là rất mong manh, đòi hỏi phải chứng minh được yếu tố chủ ý. Trong khi đó, các đối tượng thường có chuyên môn cao, có thể sử dụng phần mềm điều khiển từ xa hoặc thiết bị trung gian để thao túng dữ liệu, khiến việc thu thập chứng cứ trở nên phức tạp và cần sự phối hợp liên ngành.
Đối với các vụ việc có nhiều tổ chức, cá nhân liên quan, việc xác định trách nhiệm phải làm rõ vai trò từng chủ thể: Ai là người đề xuất, ai chỉ đạo, ai thực hiện, có hay không “môi giới” trung gian và dòng lợi ích vật chất được phân chia như thế nào. Đây là cơ sở để xử lý đúng người, đúng tội và tránh bỏ lọt sai phạm.
Từ góc độ phòng ngừa, Luật sư Nguyễn Hồng Thái đề xuất cần hoàn thiện cơ chế giám sát dữ liệu theo hướng không thể can thiệp; tăng cường kiểm chứng độc lập từ bên thứ ba; minh bạch hóa dữ liệu để xã hội và báo chí cùng giám sát. Đồng thời, cần nghiên cứu bổ sung quy định riêng trong pháp luật hình sự đối với hành vi làm sai lệch dữ liệu quan trắc môi trường, gắn trách nhiệm rõ ràng với người đứng đầu.
Theo vị luật sư, khi dữ liệu - nền tảng của quản lý bị bóp méo, hậu quả không chỉ dừng ở môi trường mà còn làm suy yếu toàn bộ hệ thống quản trị. Vì vậy, xử lý nghiêm và bịt kín “lỗ hổng pháp lý” là yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Vụ án làm sai lệch dữ liệu quan trắc môi trường đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về những lỗ hổng trong hệ thống giám sát môi trường hiện nay. Khi dữ liệu – nền tảng của quản lý – bị thao túng, toàn bộ hệ thống kiểm soát có thể bị vô hiệu hóa, kéo theo nhiều hệ lụy đối với môi trường và xã hội.
Từ vụ việc này, yêu cầu đặt ra không chỉ là xử lý nghiêm các cá nhân vi phạm, mà còn phải rà soát lại toàn bộ quy trình quản lý, từ khâu vận hành hệ thống quan trắc đến công tác giám sát và hậu kiểm. Việc hoàn thiện cơ chế giám sát, tăng cường minh bạch dữ liệu và nâng cao trách nhiệm của các chủ thể liên quan là điều kiện tiên quyết để ngăn chặn nguy cơ tái diễn những sai phạm tương tự trong tương lai.
Chỉ khi dữ liệu được bảo vệ, trách nhiệm được xác lập rõ ràng và quyền lực được kiểm soát chặt chẽ, hệ thống quản lý môi trường mới có thể vận hành hiệu quả, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững.