Tọa đàm chính sách “Tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy các mô hình phát triển tài nguyên nước phù hợp với miền Trung – Tây Nguyên”
Tin hoạt động Hội - Ngày đăng : 14:17, 23/05/2026
Tọa đàm chính sách “Tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy các mô hình phát triển tài nguyên nước phù hợp với miền Trung – Tây Nguyên”
Sáng ngày 23/5/2026, trong khuôn khổ Hội thảo: Quản lý, sử dụng và xúc tiến đầu tư phát triển tài nguyên nước gắn với nông nghiệp, nông thôn mới và năng lượng xanh miền Trung – Tây Nguyên đã diễn ra buổi Tọa đàm chính sách “Tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy các mô hình phát triển tài nguyên nước phù hợp với miền Trung – Tây Nguyên”.
Tại buổi Tọa đàm, ông Ngô Sỹ Cường - UV chuyên trách Ủy Ban Khoa học công nghệ và Môi trường Quốc hội cho rằng, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan, tài nguyên nước cần được nhìn nhận không chỉ là yếu tố phục vụ sản xuất mà phải trở thành động lực phát triển vùng theo hướng xanh, bền vững và thích ứng.
Theo ông Ngô Sỹ Cường, miền Trung – Tây Nguyên đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như hạn hán kéo dài, lũ lụt cực đoan, suy giảm nguồn nước và khó khăn trong cấp nước sinh hoạt cho người dân vùng sâu, vùng xa. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng nước cho phát triển kinh tế - xã hội, nông nghiệp và năng lượng ngày càng gia tăng, tạo áp lực lớn đối với công tác quản lý tài nguyên nước.

Ông nhấn mạnh, Luật Tài nguyên nước năm 2023 đã thể hiện rõ quan điểm đổi mới trong quản lý tài nguyên nước, chuyển từ tư duy khai thác sang quản trị tổng hợp, từ bị động xử lý sang chủ động bảo đảm an ninh nguồn nước. Đối với miền Trung – Tây Nguyên, đây là yêu cầu đặc biệt cấp bách bởi khu vực có điều kiện tự nhiên phân hóa mạnh, phân bố nguồn nước không đồng đều và chịu tác động lớn của khí hậu cực đoan.
Để nâng cao khả năng chủ động nguồn nước cho khu vực trong thời gian tới, ông Ngô Sỹ Cường cho rằng cần tập trung nâng cao năng lực điều tra, đánh giá, dự báo và giám sát tài nguyên nước; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và hệ thống điều hành theo thời gian thực nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, phân bổ và sử dụng nước.
Bên cạnh đó, cần thúc đẩy phát triển các mô hình thủy lợi xanh và cấp nước bền vững, hướng tới mô hình đa mục tiêu như cấp nước dân sinh, hỗ trợ môi trường, điều hòa sinh thái, kết hợp năng lượng tái tạo và thích ứng biến đổi khí hậu. Đồng thời, cần quan tâm hơn tới các mô hình cấp nước phân tán, thu gom nước mưa, cấp nước sử dụng năng lượng mặt trời phù hợp với vùng khó khăn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo ông Ngô Sỹ Cường, kinh tế tuần hoàn nước gắn với môi trường nông thôn và năng lượng xanh sẽ là xu hướng phát triển tất yếu trong thời gian tới. Việc tái sử dụng nước, giảm thất thoát, xử lý nước thải phân tán và sử dụng năng lượng tái tạo trong vận hành hệ thống cấp nước, thủy lợi sẽ góp phần nâng cao chất lượng sống cho người dân và thúc đẩy phát triển bền vững khu vực.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, ông đề xuất tiếp tục hoàn thiện cơ chế xã hội hóa và hợp tác công – tư trong lĩnh vực tài nguyên nước, cấp nước nông thôn, môi trường và năng lượng xanh; đồng thời nghiên cứu các cơ chế ưu đãi nhằm khuyến khích đầu tư vào công nghệ tiết kiệm nước, năng lượng tái tạo và xử lý môi trường.
“Với sự phối hợp chặt chẽ giữa Quốc hội, Chính phủ, các bộ ngành, địa phương, cộng đồng khoa học và doanh nghiệp, chúng ta sẽ từng bước hình thành được các mô hình quản lý, sử dụng và phát triển tài nguyên nước theo hướng chủ động, hiệu quả, xanh và bền vững hơn cho khu vực miền Trung – Tây Nguyên”, ông Ngô Sỹ Cường nhấn mạnh.

Phát biểu tại tọa đàm, ông Nguyễn Thiên Văn - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết, Đắk Lắk hiện có nhiều công trình cấp nước sinh hoạt tập trung. Các công trình quy mô lớn do Trung tâm Nước sạch thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường quản lý vận hành đang phát huy hiệu quả tốt, đảm bảo sử dụng lâu dài và được bảo trì thường xuyên. Trong khi đó, nhiều công trình bàn giao theo mô hình tự quản sau một thời gian đều ngừng hoạt động, cho thấy mô hình quản lý hiện nay còn nhiều bất cập.

Theo ông Nguyễn Thiên Văn, mục tiêu nâng tỷ lệ người dân sử dụng nước đạt quy chuẩn lên trên 65% nhưng thực tế hiện mới đạt khoảng 35%, phản ánh rõ những khó khăn trong lĩnh vực nước sinh hoạt.
Về tài nguyên nước ngầm, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk cho rằng mực nước ngầm tại Tây Nguyên, đặc biệt là Đắk Lắk, đang suy giảm nghiêm trọng do khai thác kéo dài cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp. Hiện nay đã có cơ chế cấp phép và thu tiền khai thác nước ngầm, tuy nhiên mức thu còn thấp và chưa gắn với trách nhiệm tái tạo nguồn nước.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk đề xuất cần nghiên cứu cơ chế pháp lý buộc các tổ chức, cá nhân khai thác nước ngầm phải thực hiện bổ cập nguồn nước. Ví dụ, đối với các vùng trồng cà phê, sầu riêng, cần quy định cụ thể việc bố trí các hố bổ cập nước ngầm trong diện tích sản xuất nhằm tái tạo nguồn nước và bảo đảm khai thác bền vững.
Bên cạnh đó, ông cũng nhấn mạnh cần tiếp tục duy trì thảm thực vật đầu nguồn, xây dựng hồ chứa, đập dâng và triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ tài nguyên nước. Theo ông, nếu lượng nước bổ sung lớn hơn lượng khai thác thì mực nước ngầm sẽ từng bước được phục hồi.
Đối với các xã khu vực biên giới của Đắk Lắk đang gặp khó khăn về nước sạch sinh hoạt, ông cho biết đặc điểm địa chất đá vôi khiến nhiều thiết bị cấp nước nhanh hư hỏng. Vì vậy cần nghiên cứu các mô hình cấp nước phù hợp với điều kiện địa hình, thổ nhưỡng và địa chất từng khu vực, đồng thời lựa chọn mô hình quản trị hiệu quả nhằm sử dụng nước tiết kiệm, đảm bảo chất lượng và vận hành bền vững, góp phần nâng cao đời sống người dân và thực hiện các tiêu chí nông thôn mới.
Cho ý kiến tại phiên tọa đàm, Chủ tịch Hội Nước và Môi trường Việt Nam Chu Phạm Ngọc Hiển cho rằng những “điểm nghẽn” lớn nhất hiện nay trong quản lý và sử dụng tài nguyên nước không chỉ nằm ở quy hoạch, dữ liệu hay nguồn lực đầu tư, mà trước hết là ở thể chế và tư duy quản trị.
Theo ông Hiển, trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, vấn đề lớn nhất hiện nay là hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên nước. Việc thể chế hóa công tác quản trị tài nguyên nước thông qua Luật Tài nguyên nước và các quy định liên quan cần tiếp tục được rà soát, sửa đổi để phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

Bên cạnh đó, một hạn chế kéo dài nhiều năm là nhận thức về nước vẫn còn mang nặng tư duy “tài nguyên trời cho”, dẫn tới tình trạng sử dụng nước thiếu tiết kiệm, kém hiệu quả. Vì vậy, muốn quản lý và sử dụng nước bền vững thì trước hết phải nâng cao nhận thức của người dân, cộng đồng, cơ quan quản lý và doanh nghiệp về giá trị của tài nguyên nước.
Về mặt chuyên môn, ông nhấn mạnh rằng cách quản lý nước theo từng lĩnh vực riêng lẻ như trước đây không còn phù hợp. Quản trị tài nguyên nước hiện nay cần được tiếp cận theo hướng tích hợp, liên ngành, gắn với các lĩnh vực kinh tế - xã hội và môi trường để bảo đảm sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và bền vững.
Ông cũng chỉ ra thực trạng nguồn nước ở Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức: mùa mưa thường dư thừa nước nhưng mùa khô lại thiếu nước nghiêm trọng; cùng với đó là tình trạng ô nhiễm nguồn nước gia tăng do quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, trong quản trị tài nguyên nước cần đặc biệt quan tâm đến việc kiểm soát, xử lý ô nhiễm và bảo đảm an ninh nguồn nước.
Theo ông Chu Phạm Ngọc Hiển, chỉ khi đổi mới tư duy quản trị theo hướng tích hợp, đồng bộ giữa thể chế, nhận thức và giải pháp chuyên môn thì mới có thể quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước một cách hiệu quả và bền vững hơn.
Theo ông La Đức Dũng, Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, nguy cơ lớn nhất đối với an ninh nguồn nước khu vực miền Trung - Tây Nguyên trong giai đoạn tới đến từ hai nhóm nguyên nhân chính là khách quan và chủ quan, trong đó biến đổi khí hậu đang là yếu tố tác động ngày càng rõ rệt và bất lợi.
Ông Dũng cho rằng khu vực miền Trung - Tây Nguyên đang chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu với nhiều biểu hiện cực đoan hơn trước. Dẫn các số liệu quan trắc, ông cho biết lượng mưa mùa mưa có xu hướng tăng về tổng lượng nhưng lượng mưa mùa khô lại giảm mạnh. Không chỉ vậy, mưa ngày càng tập trung theo dạng mưa lớn trong thời gian ngắn.

Trong bối cảnh các lưu vực sông ở miền Trung chủ yếu có đặc điểm dốc và ngắn, khả năng giữ nước tự nhiên rất thấp, khiến hiệu quả tích trữ nước không cao. Theo ông, đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm gia tăng nguy cơ thiếu nước trong mùa khô.
Một vấn đề khác được ông Dũng nhấn mạnh là sự biến động bất thường của lượng mưa theo không gian và thời gian đã làm sai lệch quy luật dòng chảy thủy văn hàng năm. Điều này tác động trực tiếp đến hoạt động khai thác, sử dụng nước khi nhiều thời điểm nhu cầu sử dụng nước tăng cao nhưng lưu lượng sông suối lại xuống thấp, không đáp ứng được yêu cầu thực tế.
Đáng chú ý, theo ông Dũng, xu thế “nơi nào vốn ít mưa thì càng ít mưa hơn” đang ngày càng rõ nét. Hệ quả là mùa khô thiếu nước nghiêm trọng hơn, trong khi mùa mưa lại gia tăng nguy cơ thiên tai. Đồng thời, suy giảm dòng chảy mùa khô cũng tạo điều kiện để xâm nhập mặn lấn sâu vào các vùng ven biển miền Trung.
Bên cạnh các nguyên nhân khách quan, ông Lan Đức Dũng cho rằng năng lực quản trị tài nguyên nước hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế trước những yêu cầu và thách thức mới.
Ông cho rằng mặc dù nhiều giải pháp kỹ thuật đã được đề cập, song vấn đề quan trọng hiện nay là hoàn thiện thể chế và cơ chế thực hiện, đặc biệt là cơ chế bổ cập nước ngầm nhằm tăng khả năng dự trữ và điều tiết nguồn nước.
Theo ông Dũng, để nâng cao năng lực quản trị tài nguyên nước cần có sự quyết liệt và đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt trong đầu tư cho công nghệ điều tra, quan trắc và xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về tài nguyên nước.
Ông nhấn mạnh, chỉ khi có đủ dữ liệu tốt mới có thể nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo; từ đó phục vụ hiệu quả cho công tác điều hành, điều tiết nguồn nước.
Ngoài ra, công nghệ dự báo hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Dẫn kinh nghiệm từ Hàn Quốc, ông Dũng cho biết nước này đã số hóa và mô phỏng toàn bộ các lưu vực sông bằng công nghệ hiện đại, kể cả sử dụng quan trắc vệ tinh để bổ sung dữ liệu đối với các lưu vực không có chia sẻ thông tin.
Theo ông La Đức Dũng, nếu không có sự đầu tư đồng bộ cho công tác điều tra, quan trắc, ứng dụng công nghệ và nâng cao năng lực quản trị từ Trung ương đến địa phương thì rất khó đáp ứng được yêu cầu bảo đảm an ninh nguồn nước trong thời gian tới.
Chia sẻ tại tọa đàm về việc lồng ghép các mô hình cấp nước thủy lợi xanh, môi trường nông thôn và năng lượng xanh, ông Trần Nhật Lam – Phó Chánh Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương cho biết, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới hiện nay đã bước sang giai đoạn thứ ba. Giai đoạn thứ nhất triển khai từ năm 2010–2015, giai đoạn hai từ 2016–2020 và hiện nay là giai đoạn 2021–2025, hướng tới giai đoạn tiếp theo 2026–2030.
Theo ông Lam, điểm khác biệt lớn nhất của giai đoạn hiện nay là việc tích hợp ba chương trình mục tiêu quốc gia gồm: xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Điều này giúp các địa phương triển khai đồng bộ hơn, tránh chồng chéo và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Bên cạnh đó, nếu như trước đây việc triển khai chủ yếu theo hướng hoàn thành các tiêu chí thì nay định hướng phát triển đã thay đổi. Chương trình không còn phân cấp “nông thôn mới nâng cao” hay “kiểu mẫu” như trước mà chuyển sang hai mức độ chính là “nông thôn mới” và “nông thôn mới hiện đại”, theo Bộ tiêu chí quốc gia mới được Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Ông nhấn mạnh, mục tiêu xuyên suốt của chương trình từ trước đến nay vẫn là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn. Trong đó, lĩnh vực tài nguyên nước và môi trường nông thôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Theo ông Trần Nhật Lam, việc khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên nước hiện nay phải đáp ứng đồng thời nhiều yêu cầu, từ phục vụ sinh hoạt, sản xuất đến phát triển kinh tế xanh và tăng trưởng xanh. Trong xây dựng nông thôn mới, nội dung này cũng đã được cụ thể hóa thông qua các tiêu chí về nước sạch, môi trường và chất lượng sống của người dân.
Ông cho biết, nhiều địa phương, đặc biệt tại khu vực Tây Nguyên như Đắk Lắk, đang đối mặt với ba thách thức lớn: Quy hoạch phát triển; phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường; và bảo đảm nước sạch, cải thiện điều kiện sống cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn.
Đại diện Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương cũng mong muốn các nhà khoa học tiếp tục đồng hành, tham gia phản biện, góp ý hoàn thiện cơ chế, chính sách trong lĩnh vực tài nguyên nước, môi trường và phát triển nông thôn. Theo ông, trong khoảng một năm qua, các cơ quan chuyên môn đã tập trung rất lớn cho việc xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Hiện nay, trong 10 nhóm tiêu chí của Chương trình nông thôn mới, các tiêu chí liên quan đến nước sạch, môi trường và môi trường nông thôn vẫn là những nội dung khó và nhiều thách thức nhất. Vì vậy, cần tăng cường quản lý, khai thác bền vững tài nguyên nước, đồng thời chú trọng xây dựng môi trường nông thôn xanh – sạch – đẹp.
Ông cũng cho rằng, bên cạnh phát triển kinh tế, cần quan tâm hơn tới việc bảo tồn cảnh quan, văn hóa và các giá trị đặc trưng của nông thôn để tạo nền tảng phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Đây sẽ là hướng đi quan trọng nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên một cách bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn trong giai đoạn mới.
Theo GS.TS Nguyễn Văn Lâm, để khai thác bền vững tiềm năng nước khoáng, nước nóng tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên nhằm gia tăng giá trị kinh tế cho địa phương, vấn đề quan trọng hàng đầu hiện nay là phải xây dựng được quy hoạch tổng thể mang tính liên vùng.
Ông cho rằng hiện nay nhiều địa phương vẫn chưa có quy hoạch khai thác nước khoáng, nước nóng một cách tổng thể và đồng bộ, dẫn đến việc thiếu kết nối trong khai thác, sử dụng tài nguyên cho các mục đích khác nhau. Điều này khiến nguồn tài nguyên nước khoáng chưa được phát huy đầy đủ giá trị kinh tế cũng như giá trị sử dụng tổng hợp.
Theo GS.TS Nguyễn Văn Lâm, công tác điều tra, đánh giá tài nguyên nước khoáng, nước nóng hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Ông nhấn mạnh việc điều tra, đánh giá loại tài nguyên này phức tạp và khó khăn hơn rất nhiều so với điều tra nguồn nước thông thường hay nước phục vụ sinh hoạt. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có sự chỉ đạo bài bản, chi tiết cho công tác điều tra, đánh giá chuyên sâu đối với nguồn nước khoáng, nước nóng.

Một bất cập khác được ông Lâm chỉ ra là vấn đề quản lý. Theo ông, mặc dù nước khoáng, nước nóng bản chất là tài nguyên nước nhưng trong thời gian dài lại được quản lý như một loại khoáng sản. Điều này dẫn đến sự thiếu thống nhất trong cơ chế quản lý giữa pháp luật về tài nguyên nước và pháp luật về địa chất, khoáng sản.
Ông cho rằng sự chồng chéo trong cách tiếp cận quản lý đang gây nhiều khó khăn cho hoạt động khai thác, sử dụng, đồng thời chưa tạo được cơ chế khuyến khích người dân và doanh nghiệp đầu tư khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này.
GS.TS Nguyễn Văn Lâm cũng nhấn mạnh yêu cầu phải khai thác, sử dụng tài nguyên nước khoáng, nước nóng theo hướng tích hợp, đa mục tiêu thay vì chỉ phục vụ một hoặc hai mục đích như hiện nay.
Theo ông, nhiều nguồn nước khoáng, nước nóng hoàn toàn có thể được khai thác đồng thời cho nhiều lĩnh vực khác nhau như du lịch nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe, sản xuất nước uống đóng chai, nông nghiệp công nghệ cao hay phát triển dịch vụ. Tuy nhiên trên thực tế, không ít nguồn tài nguyên đang bị bỏ quên hoặc khai thác chưa tương xứng với tiềm năng, gây lãng phí lớn.
Bên cạnh đó, ông Lâm cho rằng công tác bảo vệ nguồn nước khoáng và các công trình khai thác hiện vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Dù các quy định pháp luật trước đây như Thông tư 52 hay gần đây là Nghị định 40 đã quy định khá rõ về các đới bảo vệ nguồn nước khoáng, song phần lớn địa phương vẫn chưa chú trọng triển khai.
Theo ông, việc thiếu quan tâm đến các đới bảo vệ đã dẫn đến nhiều hệ lụy trong thực tế, trong đó có tình trạng cạnh tranh, mâu thuẫn trong khai thác nguồn nước khoáng giữa các đơn vị. Thậm chí có những nguồn nước khoáng đã được cấp phép nhưng không thể khai thác do xung đột trong quá trình sử dụng tài nguyên.
GS.TS Nguyễn Văn Lâm nhấn mạnh rằng bảo vệ nguồn nước khoáng và bảo vệ các công trình khai thác phải được xem là một khâu đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm tính bền vững cho hoạt động khai thác, sử dụng lâu dài.
Theo ông, nếu không có quy hoạch tổng thể, không hoàn thiện cơ chế quản lý đồng bộ, không tăng cường điều tra đánh giá và bảo vệ nguồn tài nguyên thì rất khó khai thác hiệu quả tiềm năng nước khoáng, nước nóng của khu vực miền Trung - Tây Nguyên trong thời gian tới.
Theo ông Nguyễn Quốc Hùng, Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, lĩnh vực tài chính xanh, đầu tư xanh, đặc biệt là các dự án liên quan đến nước, môi trường, năng lượng xanh và thủy lợi xanh hiện đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ Chính phủ cũng như hệ thống ngân hàng.
Ông Hùng cho biết thời gian qua Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy tài chính xanh, trong đó có Quyết định 21 về tiêu chí xanh. Song song với đó, ngành ngân hàng cũng đã triển khai kế hoạch hành động từ năm 2018 nhằm định hướng tín dụng vào các lĩnh vực phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.

Theo ông, các lĩnh vực liên quan đến tài nguyên nước, khai thác phục vụ nông nghiệp, nông thôn đều nằm trong nhóm ưu tiên cấp tín dụng theo các chính sách như Nghị định 55, Nghị định 116 trước đây và mới đây là các quy định sửa đổi, bổ sung trong năm 2025.
“Có thể nói liên quan đến lĩnh vực xanh thì ngành ngân hàng đã có kế hoạch, chiến lược và lộ trình triển khai khá rõ ràng. Tất cả các tổ chức tín dụng hiện nay đều rất quan tâm đến lĩnh vực này”, ông Hùng nhấn mạnh.
Để phục vụ hoạt động cho vay xanh, ngành ngân hàng cũng đã ban hành sổ tay đánh giá rủi ro môi trường và rủi ro xã hội đối với tín dụng xanh. Tuy nhiên, ông Hùng cho biết tốc độ triển khai thực tế hiện vẫn còn khá chậm so với kỳ vọng.
Theo số liệu được ông Hùng chia sẻ, đến hết tháng 5/2025, tổng dư nợ tín dụng xanh mới đạt khoảng 750.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 4,2% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng tín dụng xanh khoảng 9,2%, thấp hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của toàn hệ thống ngân hàng.
Ông cho rằng hiện nay các ngân hàng, kể cả ngân hàng thương mại cổ phần, đều rất quan tâm tới các tiêu chí ESG và đánh giá rủi ro môi trường trong hoạt động cấp tín dụng. Trên cơ sở hệ thống đánh giá rủi ro môi trường, các tổ chức tín dụng đã thực hiện đánh giá đối với khoảng 4,6 triệu tỷ đồng dư nợ cho vay.
Theo ông Hùng, hiện nay khi xem xét cấp tín dụng, các ngân hàng đều đặc biệt quan tâm đến việc dự án có đáp ứng yêu cầu về môi trường hay không. Tuy nhiên, một trong những vướng mắc lớn nhất hiện nay lại nằm ở việc xác định tiêu chí xanh.
Ông cho biết theo Quyết định 21 của Thủ tướng Chính phủ, các dự án đáp ứng tiêu chí xanh sẽ được hưởng lãi suất ưu đãi thấp hơn khoảng 2% so với mặt bằng thị trường. Tuy nhiên, do hệ thống tiêu chí xanh hiện vẫn chưa thực sự rõ ràng, nhiều tổ chức tín dụng còn e ngại trong quá trình triển khai.
“Các tổ chức tín dụng không dám mạnh dạn cho vay nếu chưa xác định rõ tiêu chí xanh, bởi nếu xác định sai sẽ liên quan đến nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách cũng như các cơ chế ưu đãi đi kèm”, ông Hùng nói.
Theo ông, đây hiện là vấn đề mà các ngân hàng rất quan tâm và đã nhiều lần tổng hợp, kiến nghị Ngân hàng Nhà nước cũng như Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành sớm hoàn thiện hệ thống tiêu chí xanh thống nhất, phù hợp với thực tiễn.
Ông cho biết hiện nay Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan liên quan đang phối hợp xây dựng các tiêu chí này nhằm tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho hoạt động tín dụng xanh.
Đối với lĩnh vực khai thác, sử dụng tài nguyên nước và các dự án phục vụ nông nghiệp, nông thôn, ông Hùng khẳng định đây vẫn là nhóm lĩnh vực ưu tiên tiếp cận vốn tín dụng. Đặc biệt, hệ thống ngân hàng chính sách cũng đã triển khai nhiều chương trình cho vay phục vụ vùng sâu, vùng xa, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh.
Tuy nhiên, ông Hùng cũng cho rằng mặc dù ngành ngân hàng rất muốn đẩy mạnh đầu tư vào lĩnh vực xanh và nông nghiệp nông thôn nhưng khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp và địa phương hiện còn hạn chế, khiến tốc độ tăng trưởng tín dụng chưa đạt như kỳ vọng.
Theo ông, dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn hiện chiếm trên 25% tổng dư nợ toàn nền kinh tế nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn thấp hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của toàn hệ thống.
Ông Nguyễn Quốc Hùng nhấn mạnh, hiện nay các chính sách ưu tiên dành cho lĩnh vực xanh và nông nghiệp nông thôn đã khá đầy đủ, trong đó các nghị định của Chính phủ đều quy định rõ việc ưu tiên tín dụng và áp dụng mức lãi suất thấp hơn khoảng 2% so với lãi suất thị trường đối với các dự án xanh.
Tuy nhiên, để các dự án nước, môi trường, năng lượng xanh và thủy lợi xanh có thể tiếp cận nguồn vốn thuận lợi hơn, điều quan trọng nhất hiện nay vẫn là sớm hoàn thiện bộ tiêu chí xanh rõ ràng, minh bạch và thống nhất để các tổ chức tín dụng có cơ sở triển khai mạnh mẽ hơn trong thực tế.
.jpg)