Hoàn thiện thể chế, mở rộng dư địa phát triển kinh tế biển

Tin trong nước - Ngày đăng : 16:39, 05/06/2026

Chiều 5/6, tại phường Cửa Lò (Nghệ An), Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và UBND tỉnh Nghệ An tổ chức Hội thảo Quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững”.
Tin trong nước

Hoàn thiện thể chế, mở rộng dư địa phát triển kinh tế biển

Hải Yến {Ngày xuất bản}

Chiều 5/6, tại phường Cửa Lò (Nghệ An), Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và UBND tỉnh Nghệ An tổ chức Hội thảo Quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững”.

Nhiều tiềm năng chưa được khai thác tương xứng

Sự kiện là một trong những hoạt động trọng tâm hưởng ứng Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, Ngày Đại dương thế giới (8/6) và Tháng hành động vì môi trường năm 2026; đồng thời là diễn đàn để các nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp cùng trao đổi các giải pháp hoàn thiện thể chế phục vụ phát triển kinh tế biển trong giai đoạn mới.

toan-canh.jpg
Tham dự Hội thảo có lãnh đạo Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đại diện các bộ, ngành Trung ương; các địa phương 21 tỉnh có biển; các chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội ngành nghề, doanh nghiệp.

Phát biểu khai mạc hội thảo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết, sau hơn 8 năm triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhận thức về vị trí, vai trò của biển đã được nâng lên rõ rệt; nhiều cơ chế, chính sách được ban hành, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế biển phát triển.

thu-truong-dang-ngoc-diep.jpg
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp phát biểu tại hội nghị

Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của quốc gia biển. Việt Nam có hơn 3.260km bờ biển, vùng biển rộng khoảng 1 triệu km² cùng hơn 4.000 hòn đảo, nhưng đóng góp của kinh tế biển cho nền kinh tế quốc dân vẫn còn khiêm tốn.

Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, một trong những nguyên nhân quan trọng là hệ thống thể chế, chính sách còn tồn tại nhiều bất cập và chồng chéo. Một số quy định trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo hiện giao thoa với Luật Điện lực, Luật Hàng hải và nhiều luật chuyên ngành khác, gây khó khăn cho quá trình triển khai các dự án đầu tư trên biển.

“Còn nhiều điểm nghẽn, đặc biệt là sự chồng chéo trong công tác quản lý nhà nước”, Thứ trưởng nhấn mạnh.

Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là yêu cầu cấp thiết nhằm tháo gỡ những rào cản về thể chế, đồng thời tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các lĩnh vực kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, khai thác khoáng sản biển sâu hay du lịch biển.

dai-bieu(1).jpg
Các đại biểu tham dự diễn đàn

Theo ông Điệp, trong quá trình khảo sát và hợp tác quốc tế, Việt Nam ghi nhận nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển, đặc biệt ở lĩnh vực khai thác khoáng sản biển sâu. Qua làm việc với một số đối tác, không ít khu vực được đánh giá có tiềm năng lớn về khoáng sản chiến lược, với giá trị kinh tế cao. Ông cũng cho rằng tiềm năng du lịch biển, đảo của Việt Nam hiện chưa được khai thác hiệu quả.

“Chúng ta có nhiều nơi rất đẹp, không thua kém các điểm nghỉ dưỡng nổi tiếng quốc tế, nhưng cơ chế phát triển và thu hút đầu tư vẫn còn hạn chế”, ông chia sẻ. Tại hội thảo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường dự kiến giới thiệu một số nội dung lớn trong dự thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đồng thời lấy ý kiến từ các chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội và doanh nghiệp để hoàn thiện chính sách.

Tạo động lực mới cho tăng trưởng từ biển

Tại hội thảo, nhiều ý kiến tập trung vào yêu cầu đổi mới tư duy quản lý biển theo hướng chuyển từ quản lý đơn ngành sang quản trị tổng hợp không gian biển, bảo đảm sự phối hợp liên ngành, liên vùng và dựa trên cách tiếp cận hệ sinh thái.

z7903619880605_939ea9fd03e72b7406c2874413820e17(1).jpg
TS. Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương), đề xuất 9 nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển Việt Nam trong bối cảnh mới.

Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch và có tính đột phá; tháo gỡ các quy định chồng chéo, phát triển thị trường quyền sử dụng khu vực biển và sớm hoàn thiện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).

Bên cạnh đó, cần huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội cho phát triển kinh tế biển; thúc đẩy tài chính xanh, hợp tác công tư (PPP) và xây dựng các doanh nghiệp biển có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Các đại biểu cũng nhấn mạnh vai trò của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quản trị biển hiện đại. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, viễn thám và các công nghệ số được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên biển.

Đối với các ngành kinh tế biển, hội thảo đề xuất tập trung phát triển các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như du lịch biển chất lượng cao, hàng hải - logistics, thủy sản công nghệ cao, năng lượng tái tạo ngoài khơi; đồng thời thúc đẩy các ngành kinh tế biển mới như hydrogen xanh, công nghệ sinh học biển và dược liệu biển.

Từ góc độ địa phương, ông Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh cho biết, dù sở hữu hơn 250km bờ biển, ngư trường rộng trên 6.100km² và hơn 2.770 hòn đảo tự nhiên, địa phương vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản trong phát triển kinh tế biển.

pct-quang-ninh-nguyen-van-cong.jpg
Ông Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh phát biểu tại hội nghị

Theo ông Công, 4 nút thắt lớn hiện nay gồm độ mở nền kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng cảng biển; hạ tầng hậu cần nghề cá và logistics biển còn hạn chế; xung đột không gian phát triển giữa công nghiệp, bảo tồn và du lịch; cùng những tác động ngày càng lớn của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Để tháo gỡ các điểm nghẽn này, Quảng Ninh đang triển khai 5 nhóm giải pháp trọng tâm, gồm quản lý đồng bộ không gian biển theo các hành lang kinh tế; hoàn thiện hạ tầng logistics và hậu cần biển; đẩy mạnh số hóa công tác quản trị biển; thúc đẩy các ngành kinh tế biển mới; đồng thời bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững hệ sinh thái ven biển.

Cũng tại hội thảo, ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho biết dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) được xây dựng theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh từ quản lý tài nguyên, môi trường biển sang quản trị tổng hợp tài nguyên, không gian biển và môi trường biển.

z7903619921230_86211b4fa2fe6d142c01aa5e68a5322d.jpg
Ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam

Dự thảo luật bổ sung các cơ chế quản lý, phân bổ và điều phối không gian biển theo Quy hoạch không gian biển quốc gia; đồng thời nghiên cứu các công cụ mới như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính nhằm nâng cao tính minh bạch, hạn chế cơ chế “xin - cho”.

Theo ông Toản, dự thảo cũng đề xuất nhiều cơ chế ưu đãi cho các ngành kinh tế biển mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, logistics biển và các mô hình kinh tế biển xanh, kinh tế carbon thấp. Đồng thời, luật sẽ tăng cường ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong quản trị biển, chuyển mạnh từ tư duy xử lý ô nhiễm sang phòng ngừa từ sớm.

Các đại biểu đánh giá, việc hoàn thiện thể chế và xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ sẽ là chìa khóa để khơi thông nguồn lực đầu tư, mở rộng không gian phát triển và tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế biển xanh, bền vững trong những năm tới.

z7903784017579_d32fd61216aac327b793b81564157e10.jpg
Tọa đàm "Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững"

Nhiều ý kiến cũng cho rằng phát triển kinh tế biển phải đi đôi với bảo vệ môi trường, phục hồi hệ sinh thái biển, ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao đời sống người dân vùng ven biển, hải đảo. Đồng thời, cần kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biển đảo và tăng cường hợp tác quốc tế.

Quản trị biển còn vướng tư duy đơn ngành

Những "nút thắt" về phân vùng, quy hoạch không gian biển và cách tiếp cận nguồn lực đang trở thành thách thức lớn đối với mục tiêu phát triển kinh tế biển trong giai đoạn tăng trưởng mới. Đó là vấn đề được Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản đặt và cho rằng cần một cách tiếp cận mang tính đột phá hơn để tháo gỡ.

z7904049993754_c0367ba6564962f496997edb189d073b.jpg
Ông Nguyễn Quốc Toản (áo trắng) - Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam đặt vấn đề cùng TS. Phạm Ngọc Sơn - Nguyên Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

TS. Phạm Ngọc Sơn, nguyên Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, cho rằng mấu chốt trong lần sửa đổi luật lần này là phải chuyển mạnh từ tư duy “quản lý biển” sang “quản trị biển”. Theo ông, trước đây hoạt động quản lý biển chủ yếu được thực hiện theo cách tiếp cận đơn ngành, trong đó mỗi lĩnh vực tự quản lý phần việc của mình. Cách làm này khiến các ngành có xu hướng tối ưu hóa lợi ích riêng, dẫn đến chồng chéo, mâu thuẫn trong khai thác không gian biển và phát sinh nhiều vấn đề về môi trường.

Ông nhấn mạnh, trong bối cảnh phát triển mới, yêu cầu đặt ra là phải thay đổi cách tiếp cận theo hướng tổng hợp, liên ngành để bảo đảm sử dụng hiệu quả và bền vững không gian biển.

“Quản lý theo ngành khiến thiếu một cái nhìn tổng thể”, ông phân tích và cho rằng, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015 đã khởi tạo cách tiếp cận quản lý tích hợp, dùng các công cụ điều phối để hài hòa hoạt động trên biển, vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ hệ sinh thái và lợi ích cộng đồng. Nhiều kết quả đã xuất hiện, trong đó có việc cải thiện không gian ven biển tại nhiều địa phương, chẳng hạn như biển Cửa Lò.

Theo Ban tổ chức, các ý kiến đóng góp tại hội thảo sẽ là cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), hướng tới xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, hiện đại, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế biển xanh, bền vững và nâng cao hiệu quả khai thác các nguồn lực từ biển trong thời gian tới.

Hải Yến