Phát triển thủy điện nhỏ tại Việt Nam (Bài 3): Đánh giá những tác động bất lợi

Moitruong.net.vn

– Thủy điện nhỏ được cho rằng không gây quá nhiều tác động như thủy điện lớn. Tuy nhiên, rất nhiều thủy điện nhỏ ở Việt Nam, nhưng quy mô công trình không hề nhỏ, và tác động của nó cũng vậy.

Do chiếm tỷ lệ lớn trong hệ thống điện quốc gia, nên thủy điện có vai trò rất quan trọng trong mạng lưới điện ở Việt Nam. Tuy nhiên, những năm gần đây, hệ thống các thuỷ điện ở Việt Nam lại đang phát triển “nóng”. Do vậy, bên cạnh những mặt tích cực sự phát triển quá nhanh của hệ thống các thủy điện đã và đang để lại những hệ luỵ khó lường.

TS. Đào Trọng Tứ, Giám đốc Trung tâm tư vấn Phát triển bền vững tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu (CEWAREC) cho biết, trước đây, thủy điện dù lớn hay nhỏ đều được xem là nguồn năng lượng sạch, vì người ta nghĩ năng lượng này được sản sinh từ nguồn nhiên liệu sạch là nước; thủy điện không gây ra khói, bụi và không nước nóng xả vào nguồn nước.

Tuy nhiên thực tế, các đập chắn, hồ chứa nước của nhà máy thủy điện (có thể từ vài triệu đến hàng tỷ mét khối nước và chiếm một diện tích lớn đất rừng, đất nông nghiệp) đã thay đổi toàn bộ chế độ dòng chảy, hệ sinh thái, điều kiện sống ở hạ lưu như các vùng đất ướt, đồng bằng ngập lũ; làm suy giảm phù sa xuống hạ lưu, biển lấn, xói lở bờ sông, bờ biển…

Nghiên cứu mới đây của Đại học Washington (Mỹ), phân tích 200 báo cáo trước đó về phát thải khí tiềm tàng từ 267 đập và hồ chứa nước trên toàn thế giới, với tổng diện tích khoảng 77.699km2, cho thấy nó phát thải gần 1 tỷ tấn CO2 mỗi năm, tương đương 1,3% tổng lượng khí nhà kính do con người tạo ra, lớn hơn tổng lượng khí thải nhà kính của Canada.

Ảnh minh họa.

Những công trình thủy điện nhỏ, được xây dựng trên các sông suối nhỏ ở vùng núi, chỉ có các đập chắn nhỏ, không tạo nên các hồ chứa, không làm ngập đất đai, không làm thay đổi sinh thái dòng sông, không phải di dân, tái định cư, không phá rừng hoặc rất ít tác động đến rừng, tức là thân thiện với môi trường thì được xem là sản sinh ra năng lượng sạch. Chưa có sự thống nhất chung quốc tế về định nghĩa thế nào là thủy điện quy mô nhỏ. Ở Canada, thủy điện nhỏ được xác định từ 20-15MW, ở Mỹ và Việt Nam là dưới 30MW, tuy nhiên phần lớn các nước trên thế giới định nghĩa thủy điện nhỏ có công suất lắp máy là 10MW. Dù định nghĩa thế nào, thì phần lớn loại công trình này khá thân thiện với môi trường so với những hình thức sản xuất năng lượng truyền thống hiện nay.

Ở Việt Nam, không phải bất cứ nhà máy thủy điện nhỏ nào (dưới 30MW) đều đáp ứng các điều kiện trên. Gọi là thủy điện nhỏ, nhưng với nhiều nhà máy, các nhà đầu tư đã xây dựng trên sông suối những con đập cao, tạo nên hồ chứa khá lớn để tận dụng tăng công suất phát điện, hậu quả là nó có những tác động tiêu cực tiềm tàng đến môi trường, sinh thái. Vì vậy, cách nhìn nhận thủy điện nhỏ tạo ra nguồn năng lượng sạch cũng tùy thuộc vào cách người ta phát triển nó như thế nào.

Trong thời gian qua, thủy điện Việt Nam phát triển nóng (cả thủy điện bậc thang và thủy điện nhỏ). Chúng ta nặng về hiệu ích kinh tế mà bỏ qua các tác động môi trường (phá rừng, dòng chảy lũ, kiệt, phù sa, sói lở, thủy sản…), xã hội (di dân, tái định canh định cư, mất mát văn hóa). Thủy điện nhỏ được cho là kênh đầu tư tư nhân đem lại nhiều lợi nhuận lớn mà những yếu tố môi trường, kỹ thuật thiết kế, xây dựng và vận hành không bị giám sát và bị xem nhẹ, nên đã dẫn đến hệ lụy và tai tiếng, làm thay đổi bản chất của loại công trình này.

Khi nói thủy điện nhỏ, người ta chỉ quan tâm đến con số công suất lắp máy (dưới 30MW), còn nó được phát triển ra sao, hoàn toàn tùy thuộc vào lựa chọn của người đầu tư. Có thể nói, có rất nhiều thủy điện nhỏ ở Việt Nam, nhưng quy mô công trình không hề nhỏ, và tác động của nó cũng vậy.

Chúng ta không có quy định thế nào là “năng lượng sạch” nên cũng không thể nói là “trá hình năng lượng sạch”. Để thủy điện nhỏ thực sự là năng lượng sạch, chúng ta cần có những chính sách, tiêu chí để phát triển.

Còn theo Bà Ngụy Thị Khanh – Giám đốc Trung tâm Phát triển Sáng tạo xanh (GreenID), Thủy điện nhỏ thường được khai thác để ưu tiên cấp điện cho những vùng chưa nối lưới, tức là cấp điện tại chỗ bằng hệ thống độc lập hoặc kết hợp nhiều nguồn khác nhau tại vùng đó, để cấp điện cho khu dân cư ở gần nhà máy chứ không phải phá rừng, làm đường nối lên lưới như Việt Nam đang làm.

Việc phát triển, vận hành thủy điện cả lớn và nhỏ ở Việt Nam cần phải được rà soát lại. Trong quá trình rà soát này, một điều quan trọng cần phải khẩn trương xem xét là vấn đề an toàn hạ du và kế hoạch ứng phó khẩn cấp trong tình huống xấu nhất. Nhà vận hành phải chịu trách nhiệm chi trả những chi phí này.

Các chuyên gia cho rằng, để phát triển thủy điện một cách bền vững, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động xấu đến đời sống người dân và môi trường, những năm tới, cần cân nhắc, đánh giá kỹ càng về giá trị thực mà một dự án mang lại với mục tiêu ít phát thải khí nhà kính, hướng đến nền kinh tế xanh. Phát triển thủy điện cần có sự tham gia của tất cả các bên liên quan từ quá trình quy hoạch, thiết kế, xây dựng đến vận hành công trình. Các bộ, ngành phê duyệt tiêu chuẩn kỹ thuật và công nghệ thi công thủy điện phải theo quy định của Nhà nước, lập quy trình và tiến hành kiểm tra an toàn hồ đập; đánh giá mức độ rủi ro khi tích nước và có biện pháp ứng phó.

Hoàng Nhân