Bảo đảm an ninh môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững ở nước ta hiện nay

Moitruong.net.vn

1. Tóm tắt: An ninh môi trường (ANMT) là thành tố quan trọng của an ninh quốc gia (ANQG), là một yếu tố cần thiết trong nội dung của sự phát triển bền vững (PTBV). Trong những năm gần đây, ANMT như một hiện tượng bức bách của đời sống xã hội. Tuy nhiên, ANMT tại Việt Nam chưa được định nghĩa một cách cụ thể, rõ ràng và thống nhất. Bài viết trên sẽ bàn luận những nhận thức chung về ANMT và PTBV, tình hình ANMT ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp bảo đảm an ninh môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững ở nước ta hiện nay.

2. Từ khóa: An ninh môi trường, bảo đảm an ninh môi trường, yêu cầu phát triển bền vững

Thế giới ngày nay đang đứng trước nhiều vấn đề về môi trường mang tính quy mô toàn cầu. Những tổn thất về con người, vật chất do môi trường gây ra vượt quá những tổn thất về người và của do các biến động xã hội, bệnh tật và chiến tranh.

Môi trường đóng vai trò quan trọng đối với sự sống của con người cũng như tất cả các sinh vật khác trên trái đất. Không chỉ cung cấp không gian sống lý tưởng, môi trường còn mang đến cho con người những tài nguyên để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,… Tuy nhiên môi trường hiện nay đang có xu hướng ô nhiễm không chỉ ở Việt Nam mà còn ở cả trên toàn thế giới, gây ra những hậu quả khó lường. Trước tình trạng nhiễm môi trường đã và đang là một vấn đề nan giải toàn cầu. Thậm chí vấn đề này không chỉ là một mối quan tâm bình thường. Chúng đang được báo động. Trên thế giới, theo thống kê số lượng người mắc các bệnh liên quan đến các vấn đề ô nhiễm môi trường rất nhiều và không có dấu hiệu dừng. Đặc biệt ở một số tỉnh thành, thành phố lớn thì chỉ cần đi ra đường một lúc thì bạn sẽ thấy tình trạng ô nhiễm môi trường rõ như thế nào, thậm chí còn thể hiện, bám dính trên người bạn.

Môi trường hiện nay đang có xu hướng ô nhiễm không chỉ ở Việt Nam mà còn ở cả trên toàn thế giới, gây ra những hậu quả khó lường

Ở Việt Nam, ANMT đang bị đe dọa nghiêm trọng, Tình hình vi phạm và tội phạm về môi trường đang diễn ra phổ biến và diễn biến hết sức phức tạp. Cộng với thiên tai, bệnh dịch, vi phạm và tội phạm môi trường là nguyên nhân cơ bản gây nên nguy cơ mất ANMT, đe dọa trực tiếp đến sự phát triển bền vững của nước ta hiện nay. Việt Nam với dân số trên 80 triệu người (đứng hàng thứ 14 trên thế giới), Việt Nam đang đứng trước những thách thức về tài nguyên thiên nhiên và môi trường, các hệ sinh thái đang suy thoái ở mức độ nghiêm trọng. Tình hình gia tăng dân số, thâm canh nông nghiệp, nhất là quá trình đô thị hóa trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đang ảnh hưởng lớn đến an ninh môi trường.

An ninh môi trường là việc bảo đảm không có tác động lớn của môi trường đến sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế của quốc gia. An ninh môi trường là trạng thái hệ thống các yếu tố cấu thành môi trường cân bằng để bảo đảm điều kiện sống và phát triển của con người cũng như các loài sinh vật trong hệ thống đó. An ninh môi trường không được bảo đảm thì xã hội không có sản xuất vật chất, không có đời sống tinh thần, không có sự tồn tại và phát triển. An ninh môi trường là thành tố quan trọng của an ninh quốc gia, một phạm trù thuộc lĩnh vực an ninh phi truyền thống. Ở Việt Nam, bảo đảm an ninh môi trường được coi là một trong những nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Một hệ thống môi trường bị mất an ninh có thể do các nguyên nhân tự nhiên (thiên tai) hoặc do các hoạt động của con người (khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, thải chất độc vào môi trường gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, suy giảm đa dạng sinh học,…) hoặc phối hợp tác động của cả hai nguyên nhân trên.

Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế – IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” . Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới – WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai…” . Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế, xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội… phải phối hợp với nhau thực hiện nhằm đảm bảo ổn định cả 3 yếu tố là kinh tế, xã hội và môi trường.

An ninh môi trường là việc bảo đảm không có tác động lớn của môi trường đến sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế của quốc gia

Ở Việt Nam, môi trường sinh thái đang ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng bởi những nguyên nhân chủ yếu do các hoạt động tiêu cực của con người và biến đổi khí hậu gây ra. Sự phát triển của kinh tế xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã mở ra nhiều nhà máy, xí nghiệp, công trường. Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra một cách mạnh mẽ đã và đang làm thay đổi đáng kể điều kiện sống của người dân. Tuy nhiên, hệ lụy của quá trình phát triển đánh đổi môi trường cũng nảy sinh nhiều tác động tiêu cực tới chất lượng cuộc sống.

Theo Báo cáo tổng kết của Cục Cảnh sát môi trường năm 2020, cả nước hiện có hơn 370 khu công nghiệp, hàng trăm cụm công nghiệp nhỏ và khoảng hơn 2.000 làng nghề rải rác ở nhiều địa phương, tuy nhiên có đến 70% khu công nghiệp không có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn; hơn 90% cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không xử lý nước thải; hơn 4.500 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; khoảng 55 – 70% số doanh nghiệp không chấp hành quy định về lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường; 98% doanh nghiệp có hành vi vi phạm về xả nước thải không đạt chuẩn môi trường; 100% doanh nghiệp thải khí không có thiết bị xử lý chất độc hại. Đó là chưa kể đến một khối lượng lớn rác thải sinh hoạt đô thị, chất thải y tế hàng ngày, thuốc bảo vệ thực vật và chất độc hóa học được sử dụng trong chiến tranh vẫn tồn lưu ở nhiều nơi đang cần được xử lý. Ngoài ra, việc nhập khẩu chất thải dưới danh nghĩa phế liệu vào Việt Nam cũng có xu hướng ngày càng gia tăng, trong đó có các loại phế liệu độc hại như: ắc quy chì, tàu cũ… hay việc săn bắt, buôn bán động vật quý hiếm, chặt phá rừng vẫn diễn biến phức tạp và gay gắt tại rất nhiều địa phương.

Theo ước tính của “Tổng cục Môi trường – Bộ TN & MT” tổng thiệt hại kinh tế của nước ta do ô nhiễm môi trường gây ra trong thời gian qua chiếm từ 1,5 – 3% GDP. Hầu hết môi trường từ đất, nước, không khí, các khu dân cư, khu công nghiệp từ thành thị đến nông thôn đã và đang bị xuống cấp, trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội. Theo đánh giá mới đây của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, với 59 điểm trong bảng xếp hạng chỉ số hiệu quả hoạt động môi trường, Việt Nam đứng ở vị trí 85/163 các nước được xếp hạng. Các nước khác trong khu vực như Philippines đạt 66 điểm, Thái Lan 62 điểm, Lào 60 điểm, Trung Quốc 49 điểm, Indonesia 45 điểm,…

Về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ 123/132 quốc gia khảo  sát; về ảnh hưởng của môi trường đến sức khỏe đứng vị trí 77; về chất lượng nước Việt Nam được xếp hạng 80. Tính theo Chỉ số Hiệu quả Môi trường (EPI), Việt Nam xếp thứ 79. Đó là những đánh giá chung, còn nếu xem xét cụ thể trên từng khía cạnh thì sẽ càng thấy rõ hơn bức tranh chung của môi trường Việt Nam hiện nay đang có nguy cơ mất ANMT nghiêm trọng. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nồng độ chất ô nhiễm trong không khí khu vực ven đường giao thông, trong đó chủ yếu là CÓ tăng 1,44 lần và bụi PM10 (tức bụi có kích thước bé hơn 10µ) tăng 1,07 lần. Kênh rạch ở khu vực nội thành bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh ở mức độ cao. Phần lớn nước thải sinh hoạt chỉ mới được xử lý sơ bộ qua bể tự hoại gia đình. Nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất chưa có hệ thống xử lý nước thải, hoặc nếu có trang bị thì không vận hành thường xuyên.

Môi trường nước đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc biệt với những dòng sông ở các thành phố lớn như Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh, tình trạng bị ô nhiễm nặng nề là điều dễ dàng nhận thấy qua thực tế, cũng như qua sự phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, sống ở nhiều vùng nông thôn cũng đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng nề do rác thải sinh hoạt, rác thải làng nghề, rác thải nông nghiệp và rác thải từ các khu công nghiệp vẫn đang từng ngày, từng giờ đổ xuống. Các dòng sông đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng nề nhất là: sông Cầu, sông Nhuệ – Đáy, sông Đồng Nai và hệ thống sông Tiền và sông Hậu, Tây Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long. Những con sông này đã trở nên độc hại, làm hủy hoại nguồn thủy sản và ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống, sức khỏe của cộng đồng.

Thiệt hại về rừng và môi trường sống kéo theo đa dạng sinh học bị ảnh hưởng nghiêm trọng

Báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, nguồn chất thải vào môi trường từ trồng trọt và chăn nuôi đang có xu hướng gia tăng, trong khi việc kiểm soát chưa đạt hiệu quả cao. Trong đó, lo ngại nhất là chất thải từ chăn nuôi. Hiện cả nước có 16.700 trang trại chăn nuôi, tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng (45%) và Đông Nam Bộ (13%), với tổng đàn gia súc 37,8 triệu con và trên 214 triệu con gia cầm.. Sô rác thải này cộng với lượng chất thải từ sản xuất nông nghiệp đã khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn ngày càng trở nên đáng lo ngại.

Một khảo sát mới đây của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội) và Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều cho thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép. Riêng Hà Nội, khảo sát tại 40 xã cho kết quả khoảng 60% số xã bị ô nhiễm nặng từ các hoạt động sản xuất. Ở các làng tái chế kim loại, khí độc không qua xử lý đã thải trực tiếp vào không khí như ở làng nghề tái chế chì Đông Mai (Hưng Yên), nồng độ chì vượt quá 2.600 lần tiêu chuẩn cho phép. Nghề thuộc da, làm miến dong ở Hà Nội cũng thường xuyên thải ra các chất như bột, da, mỡ làm cho nước nhanh bị hôi thối, ô nhiễm nhiều dòng sông chảy qua làng nghề. Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động gần đây cho biết, trong các làng nghề, những bệnh mắc nhiều nhất là bệnh liên quan đến hô hấp như viêm họng chiếm 30,56%, viêm phế quản 25% hay đau dây thần kinh chiếm 9,72%. Tại làng nghề tái chế chì Đông Mai, tỷ lệ người dân mắc bệnh về thần kinh chiếm khoảng 71%, bệnh về đường hô hấp chiếm khoảng 65,6% và bị chứng hồng cầu giảm chiếm 19,4%. Còn tại làng nghề sản xuất rượu Vân Hà (Bắc Giang) tỷ lệ người mắc bệnh ngoài da là 68,5% và các bệnh về đường ruột là 58,8%.

Trước năm 1945, nước ta có 14 triệu ha rừng, chiếm hơn 42% diện tích tự nhiên của cả nước, năm 1975 diện tích rừng chỉ còn 9,5 triệu ha (chiếm 29%), đến nay chỉ còn khoảng 6,5 triệu ha (tương đương 19,7%). Độ che phủ của rừng nước ta đã giảm sút đến mức báo động. Chất lượng rừng ở các vùng còn rừng bị hạ xuống mức quá thấp. Trên thực tế chỉ còn khoảng 10% là rừng nguyên sinh. 40 năm trước đây, 400.000 ha đất ven biển nước ta được bao phủ bởi rừng ngập mặn, nhưng chỉ trong 5 năm, 2006 – 2011, 124.000 ha rừng ngập mặn ven biển đã biến mất để nhường chỗ cho các ao tôm, ao cá – tương đương diện tích bị mất trong 63 năm trước đó.. Số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy đến hết năm 2012 có hơn 20.000 ha rừng tự nhiên bị phá để sử dụng vào nhiều mục đích, nhiều nhất là để làm thủy điện, nhưng chỉ mới trồng bù được hơn 700 ha.

Thiệt hại về rừng và môi trường sống kéo theo đa dạng sinh học bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Thế giới thừa nhận Việt Nam là một trong những nước có tính đa dạng sinh học vào nhóm cao nhất thế giới. Với các điều tra đã công bố, Việt Nam có 21.000 loài động vật, 16.000 loài thực vật, bao gồm nhiều loài đặc hữu, quý hiếm. Tổ chức vi sinh vật học châu Á thừa nhận Việt Nam có không ít loài vi sinh vật mới đối với thế giới. Thế nhưng trong 4 thập kỷ qua, theo ước tính sơ bộ đã có 200 loài chim bị tuyệt chủng và 120 loài thú bị diệt vong. Và, mặc dù có vẻ nghịch lý nhưng có một thực tế là các trang trại gây nuôi động vật hoang dã như nuôi những loài rắn, rùa, cá sấu, khí và các loài quý hiếm khác vì mục đích thương mại ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á lại không hề làm giảm bớt tình trạng săn bắt động vật hoang dã trong tự nhiên, mà thậm chí còn làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn bởi những trang trại này đã liên quan tới các hoạt động buôn bán trái phép động vật hoang dã. Hơn 100 loài sinh vật ngoại lai đang hiện diện tại nước ta cũng là mối nguy lớn cho môi trường sinh thái, như: ốc bươu vàng, cây mai dương, bọ cánh cứng hại da, đặc biệt là việc nhập khẩu 40 tấn rùa tai đỏ – một loài đã được quốc tế cảnh báo là một trong những loài xâm hại nguy hiểm.

Không những vậy, hiện các doanh nghiệp ở Việt Nam là chủ sở hữu của hơn một nghìn con tàu biển trọng tải lớn, cũ nát. Hầu hết các cảng biển trên thế giới đều không cho phép loại tàu này vào, vì nó quá cũ gây ô nhiễm môi trường lại không bảo đảm an toàn hàng hải. Thế nhưng, hơn một nghìn con tàu cũ nát đó vẫn đang được neo vật vờ ở các tuyến sông, cửa biển để chờ được “hóa kiếp” thành phế liệu mà việc phá dỡ loại tàu biển cũ này sẽ thải ra rác thải nguy hại làm ô nhiễm môi trường sống. Nhiều dự án luyện, cán thép lớn đã, đang và sẽ xuất hiện, hứa hẹn đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu thép lớn, song đồng thời cũng có nguy cơ biến Việt Nam thành nơi tập trung “rác” công nghệ và chất thải. Bài học “xương máu” này đã từng xảy ra với ngành sản xuất xi măng, song vẫn có khả năng lặp lại nếu những dây chuyền luyện gang, thép bị loại bỏ ở Trung Quốc được đưa về lắp đặt ở Việt Nam, biến nước ta dần trở thành bãi rác công nghệ và chất thải.

Cùng với nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu, nguồn tài nguyên khoáng sản dưới lòng đất của nước ta đã bị khai thác khá mạnh. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, từ năm 2019 – 2021, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 2,1 – 2,6 triệu tấn khoáng sản các loại (không kể than, dầu thô) với điểm đến chủ yếu là Trung Quốc, nhưng chỉ mang lại giá trị 130 – 230 triệu USD. Riêng năm 2018, lượng khoáng sản xuất khẩu vẫn gần 800.000 tấn thông qua đường chính ngạch. Nếu cộng cả số xuất lậu, xuất qua đường biên mậu, số rượu xuất khẩu còn lớn hơn nữa (vào năm 2020, chỉ riêng xuất lậu quặng ti-tan ước tính đã lên đến 200.000 tấn).

Đảm bảo an ninh môi trường tốt cũng chính là đáp ứng một trong 3 yêu cầu phát triển bền vững mà Chương trình nghị sự 21 của Chính phủ đặt ra theo quyết định 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 cũng như nội dung của quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020. Quản lý an ninh môi trường không chỉ là vấn đề đảm bảo an ninh môi trường đơn thuần mà có tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia đến quá trình phát triển bền vững của đất nước ta trong thời gian tới. Để đáp ứng yêu cầu này, trước hết phải thực hiện tốt công tác quản lý an ninh môi trường theo các nội dung chính sau:

Một là, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho người dân và doanh nghiệp về môi trường và bảo vệ môi trường, tăng cường giáo dục về công tác quản lý an ninh môi trường. Để thực hiện tốt điều này, cơ quan quản lý nhà nước về môi trường cần tổ chức thường xuyên các chiến dịch về nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường, sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, internet, mạng xã hội và các hình thức trực tiếp để tác động vào nhận thức của người dân, của doanh nghiệp về ý thức trách nhiệm trong bảo vệ môi trường. Làm cho mọi người dân, mọi doanh nghiệp hiểu được bảo vệ an ninh môi trường cũng chính là bảo vệ an ninh và lợi ích của doanh nghiệp, của quốc gia, bảo vệ môi trường sống của chính mình, góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, của nền kinh tế. Đưa nội dung tuyên truyền giáo dục về môi trường, bảo vệ môi trường, phòng chống và ứng phó với biến đổi khí hậu là chương trình bắt buộc trong các cơ sở giáo dục các cấp nhằm hình thành ý thức bảo vệ môi trường từ sớm cho mọi công dân, làm cho họ có trách nhiệm hơn với xã hội, với môi trường sống của chính mình.

Hai là, thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường, trong đó trước hết cần rà soát, loại bỏ những quy định không phù hợp, những quy định chưa đầy đủ hoặc gây cản trở hoạt động của cơ quan bảo vệ môi trường, những quy định gây khó khăn cho doanh nghiệp trong hệ thống pháp luật về môi trường, đồng thời tham mưu cho Đảng và Nhà nước một số nội dung như hoàn thiện hệ thống pháp luật về môi trường, bổ sung những quy định mới nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh trong quản lý nhà nước về an ninh môi trường. Tăng cường năng lực và hiệu quả của các cơ quan chuyên trách về bảo vệ môi trường, làm trong sạch nội bộ các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, các cơ quan phòng chống tội phạm về môi trường. Cần xây dựng cơ chế phối hợp và phân công trách nhiệm cụ thể giữa cơ quan bảo vệ môi trường và cơ quan phòng chống tội phạm về môi trường của lực lượng công an nhằm đảm bảo sự thống nhất trong việc thực thi pháp luật về môi trường trên cùng một địa bàn, trong cùng một doanh nghiệp.

Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo ANMT. Thực HIện tốt chương trình trồng rừng, ngăn chặn nạn phá rừng, cháy rừng, tăng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên. Khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm môi trường và cân bằng sinh thái. Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững; từng bước phát triển “năng lượng sạch”, “sản xuất sạch”, “tiêu dùng sạch”; Làm tốt công tác dự báo trong đó dự báo, cảnh báo kịp thời, chính xác các hiện tượng khí tượng thủy văn, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu x. Thực hiện tốt chương trình trồng rừng, ngăn chặn nạn phá rừng, cháy rừng, tăng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên. Khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm môi trường và cân bằng sinh thái. Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Làm tốt công tác dự báo trong đó dự báo, cảnh báo kịp thời, chính xác các hiện tượng khí tượng thủy văn, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu

Ba là, làm tốt công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật về môi trường, đấu tranh ngăn chặn các loại tội phạm về môi trường. Các vi phạm pháp luật về môi trường, tội phạm môi trường hiện nay hết sức tinh vi, đa dạng. Đó là các hành vi xả rác thải quá mức cho phép vào môi trường, khai thác, kinh doanh trái phép tài nguyên, môi trường quốc gia, săn bắt, buôn bán động vật hoang dã, chặt phá rừng, dịch chuyển khí thải xuyên quốc gia (buôn bán quota khí thải), phá hoại nguồn nước, sử dụng hóa chất bất hợp pháp, buôn bán, kinh doanh rác thải công nghiệp bất hợp pháp…

Cần tăng cường hơn nữa trách nhiệm của lực lượng cảnh sát môi trường, nâng cao hiệu quả các biện pháp nghiệp vụ của lực lượng công an trong nắm tình hình, điều tra, khám phá các vụ án về môi trường. Nắm bắt thông tin và xử lý đối với các tổ chức, cá nhân có các hành vi liên quan đến an ninh môi trường, đặc biệt là các doanh nghiệp, yêu cầu các doanh nghiệp khi xây dựng và vận hành các cơ sở sản xuất của mình phải có hệ thống xử lý chất thải, hệ thống đảm bảo an ninh môi trường. Đối với các tổ chức cá nhân không tuân thủ các quy định về an ninh môi trường thì tiến hành rút giấy phép hoạt động hoặc xử phạt theo quy định của pháp luật Việt Nam. Song song với đó cần có cơ chế giám sát việc thực thi nhiệm vụ của cảnh sát môi trường, của các lực lượng thực thi pháp luật về môi trường nhằm ngăn chặn các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực cản trở hoạt động của doanh nghiệp hoặc thông đồng với doanh nghiệp trục lợi gây ảnh hưởng đến môi trường, gây mất niềm tin của quần chúng nhân dân, doanh nghiệp với lực lượng thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường. Xử lý nghiêm tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường trong đó cần phải quy định rõ ràng chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân nhằm xử lý về mặt hình sự các hành vi vi phạm của các doanh nghiệp về môi trường trong điều kiện hiện nay.

Bốn là, tích cực phối hợp thanh tra, kiểm tra, giám sát các công ty, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên cả nước về hệ thống xử lý nước thải, tái chế chất thải, khoảng cách đảm bảo an toàn môi trường đối với khu dân cư, phát hiện và xử lý nghiêm những các trường hợp vi phạm. Tổ chức xây dựng đường dây nóng tiếp nhận thông tin của người dân về các trường hợp vi phạm về bảo vệ môi Hàng để kịp thời có biện pháp xử lý. Các trường hợp đã có vi phạm trong lĩnh vực môi trường cần lập danh sách theo dõi trong một khoảng thời gian nhất định tùy theo mức độ vi phạm, nếu trong khoảng thời gian đó vẫn không có thay đổi mà vẫn tiếp tục vi phạm thì đình chỉ hoạt động sản xuất kinh doanh và xử lý nghiêm, thông báo rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng về hành vi vi phạm. Cần tạo bước chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức sang hành động cụ thể. Lấy chỉ số đầu tư cho môi trường, hoạt động bảo vệ môi trường, kết quả bảo vệ môi trường cụ thể để đánh giá. Tăng cường công tác phối hợp thanh tra, kiểm tra giữa các lực lượng chức năng có liên quan, trong đó có lực lượng chuyên trách đảm bảo ANMT, các sở, ban, ngành thuộc Bộ TN & MT, Kiểm lâm… Kết hợp với điều tra xử lý nghiêm các hành vi vi phạm là một biện pháp mạnh để giảm thiểu các vi phạm pháp luật và các loại tội phạm về môi trường.

Năm là, tập trung nghiên nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại trong sản xuất, kinh doanh nhằm tiết kiệm nhiên liệu, không gây ô nhiễm môi trường, phát triển và ứng dụng khoa học bảo vệ môi trường, xử lý rác thải, nước thải, khí thải gây ô nhiễm. Nâng cao năng lực quan trắc, dự báo, cảnh báo, khắc phục hậu quả thiên tai, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Chủ động xây dựng, tổ chức diễn tập các kịch bản, phương án ứng phó với các tình huống thời tiết cực đoan, bão, lũ, động đất, sóng thần và thảm họa thiên nhiên. Tổ chức rà soát, đánh giá tác động, ảnh hưởng của các dự án phát triển kinh tế xã hội, các khu công nghiệp, các nhà máy, các làng nghề, các cơ sở sản xuất, kinh doanh đến đời sống sinh hoạt của nhân dân trong vùng, hạn chế thấp nhất để xảy ra các xung đột môi trường, nhất là xung đột giữa công nghiệp (thủy điện, khu công nghiệp tập trung) với cộng đồng làm nông nghiệp, thủy sản, giữa người dân với chính quyền, doanh nghiệp, chủ động ngăn chặn các xung đột về môi trường giữa nước ta với các nước láng giềng, đặc biệt là các nước có chung lợi ích. Chủ động nghiên cứu phát triển và đưa vào nuôi trồng các cây giống, vật nuôi thích ứng với điều kiện khí hậu, thời tiết trong tình hình mới, đặc biệt là các vùng chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học về ANMT và đảm bảo ANMT nhằm xác định rõ các nguy cơ đe dọa đến ANMT và chủ động tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đảm bảo ANMT. Quá trình nghiên cứu pháp luật về môi trường để tìm ra những sơ hở, thiếu sót để kịp thời sửa đổi, bổ sung. Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ chuyên trách đảm bảo ANMT thông qua các buổi học, tọa đàm, sinh hoạt chính trị tại các đơn vị…

Sáu là, hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường nhằm xây dựng các cơ chế, nguyên tắc chung trong xử lý các vấn đề môi trường và huy động nguồn lực tài chính, khoa học kỹ thuật bảo vệ môi trường. Vấn đề liên quan an ninh môi trường không chỉ là của riêng bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới mà là của nhân loại. Môi trường không khí, nguồn nước có ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia trên thế giới, chính vì vậy mà môi trường có tính toàn cầu. Bảo vệ môi trường cần có sự hợp tác quốc tế với tất cả nước trên thế giới. Việt Nam đã có quan hệ hợp tác rất tốt với các tổ chức môi trường quốc tế như Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), Tổ chức hòa bình xanh (Greenpeace), Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF)… và chúng ta đã có tiếng nói góp phần giải quyết các vấn đề an ninh môi trường trong các diễn đàn quan trọng. Trong thời gian tới, chúng ta cần tiếp tục duy trì và tăng cường hợp tác với chính phủ các nước, đặc biệt là các nước có chung đường biên giới với Việt Nam, các nước có lợi ích chung trên một số lĩnh vực liên quan đến môi trường nhằm tìm kiếm tiếng nói chung trong đảm bảo an ninh môi trường. Đặc điểm của nước ta có nhiều sông ngòi bắt nguồn từ nước ngoài, đây vừa là nguồn nước sạch sử dụng trong sinh hoạt, canh tác, chăn nuôi của người dân, vừa là nguồn điều hòa không khí quan trọng giúp cân bằng sinh thái. Nếu không có sự hợp tác để chia sẻ và bảo vệ nguồn nước đối với các dòng sông này, đặc biệt là với các quốc gia thượng nguồn sông Mê kông, sông Hồng thì quốc gia hạ nguồn như chúng ta hoàn toàn có thể hứng chịu những tổn thất ghê gớm từ mất an ninh môi trường nguồn nước.

Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương Đảng Khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ tài nguyên môi trường trong đó xác định: “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước; là cơ sở, tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị; là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự tham gia, giám sát của toàn xã hội” .

Có thể nói an ninh môi trường là vấn đề có tính thời sự trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay. Đảm bảo an ninh môi trường là đảm bảo điều kiện sống cho con người, góp phần quan trọng vào việc ổn định xã hội, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế. Ngược lại an ninh môi trường bị xâm hại sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của người dân, tạo ra xung đột xã hội giữa người dân với doanh nghiệp, xung đột người dân với chính quyền, xung đột giữa quốc gia giữa nước ta với các nước có có cùng lợi ích, gây ra những bất ổn xã hội, ảnh hưởng đến quan hệ đối ngoại, đến an ninh quốc gia, kiềm chế sự phát triển kinh tế, xã hội. Quản lý tốt an ninh môi trường sẽ là điều kiện tạo ra sự ổn định xã hội, giải quyết hài hòa các lợi ích về môi trường, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển bền vững của đất nước.

Nhóm tác giả: Phạm Thành Lâm – Lê Gia Huy – Nguyễn Quốc Đạt

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Ban chấp hành Trung ương khóa XI (2013), Nghị quyết số 24-NQ/TW về “chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ tài nguyên môi trường”.
  2. Nghị quyết của Chính phủ số 09/NQ-CP ngày 03/02/2019 về “Quản lý chất thải rắn sinh hoạt”.
  3. Chính phủ (2004). Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 về định hướng chiến lược phát triển bền vững.
  4. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 214.
  5. Định hướng chiến lược phát triển bền vững (ban hành kèm theo QĐ số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004).
  6. Bùi Việt Cường (2014). Thể chế cho sự phát triển bền vững: Quan niệm và cách tiếp cận. Tạp chí Phát triển bền vững Vùng, Quyển 4, Số 2, tr. 3-12.
  7. Cục Cảnh sát môi trường (2020). Báo cáo tổng kết công tác năm 2020.
  8. Bộ Tài nguyên và Môi trường: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2019.