Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người

Moitruong.net.vn

– Tìm hiểu về danh xưng “Hồ Chí Minh” càng làm cho chúng ta nhận thức sâu sắc thêm về tư tưởng, đạo đức, phong cách giản dị, trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã dành cả cuộc đời vì dân, vì nước, vì độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam.

Danh xưng “Hồ Quang” hay “Hồ Chí Minh” ban đầu được Bác sử dụng như là một bí danh. Đó là thời điểm cuối năm 1938, từ Liên Xô trở lại Trung Quốc hoạt động, trong vai một Thiếu tá của Bát Lộ quân, Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng cái tên “Hồ Quang” để công tác tại Phòng Cứu vong thuộc Văn phòng Bát Lộ quân ở Quế Lâm (Trung Quốc), nhiệm vụ cụ thể là Ủy viên y tế kiêm Ủy viên bích báo, tham gia lãnh đạo Phòng[1].

Sau 30 năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển tìm đường cứu nước, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc đã trở về Tổ quốc, ở tại hang Pác Bó, bản Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng để trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước. Ngày 13/8/1942, Nguyễn Ái Quốc quay lại Trung Quốc với danh nghĩa đại diện của cả Việt Minh và Hội quốc tế phản xâm lược Việt Nam (một hội đoàn được chính Bác tổ chức ra trước đó) để liên lạc với các lực lượng cách mạng của người Việt Nam và lực lượng Đồng minh, qua đó tìm kiếm sự ủng hộ cho cuộc cách mạng ở trong nước. Lúc này, cái tên “Hồ Chí Minh” đã lần đầu tiên đã được Bác chính thức sử dụng trong các giấy tờ cá nhân. Chỉ ít ngày sau đó, ngày 29/8/1942, Hồ Chí Minh đã bị Chính quyền Quốc dân Đảng bắt giữ và giam cầm hơn một năm[2]. Tập thơ “Nhật ký trong tù” được ra đời chính trong thời gian này. Từ đó, cái tên Hồ Chí Minh được sử dụng thường xuyên hơn.

Bộ sưu tập chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tài liệu lưu trữ thời kỳ 1945 – 1969

Vì sao lúc này Nguyễn Ái Quốc lại dùng danh xưng là “Hồ Chí Minh”, trong đó “Hồ” là họ và “Chí Minh” là tên (người có họ là “Hồ”, tên là “Chí Minh”). Đơn giản là bởi lẽ Bác rất am hiểu văn hóa Trung Quốc, thông thạo tiếng Trung Quốc. Trong ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc, chữ “Hồ” còn có nghĩa là “râu” hàm ý chỉ những người lớn tuổi để râu; hoặc trong chữ “mơ hồ”. “Lão Hồ” có nghĩa là ông lão có râu dài, giản dị, mơ hồ, có thể bắt gặp ở bất cứ đâu trong cuộc sống. Do vậy, Bác dùng họ “Hồ” đã thể hiện được phong cách giản dị, dễ hòa đồng, hòa nhập với dân chúng, lại có thể tránh được sự theo dõi của mật thám. Người Trung Quốc không xưng hô bằng tên gọi mà xưng hô bằng họ. Trong trường hợp bị mật thám tìm hỏi về một ông lão Hồ thì người dân cũng sẽ rất khó xác định được đó là “ông già râu dài” nào. Về tên gọi “Chí Minh”, chữ “Chí” trong “trí tuệ”, còn “Minh” là “sáng” hay trong “con đường sáng”. Bác dùng danh xưng “Hồ Chí Minh” còn có hàm ý muốn nói rằng một người họ “Hồ” có trí tuệ và dùng trí tuệ của mình để đi theo con đường sáng, con đường cách mạng vô sản chân chính đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam…

Ngày 2/9/1945, trong phần cuối bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chữ ký “Hồ Chí Minh” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức sử dụng cùng với chữ ký của 13 người khác là những vị Bộ trưởng đầu tiên trong Chính phủ mới (gồm: Trần Huy Liệu, Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Dương Đức Hiền, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Mạnh Hà, Cù Huy Cận, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Xuân, Vũ Trọng Khánh, Phạm Văn Đồng, Đào Trọng Kim, Vũ Đình Hòe, Lê Văn Hiến)[3].

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi. Ảnh tư liệu

Vậy là bắt đầu từ ngày 2/9/1945, với cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, danh xưng “Hồ Chí Minh” đã chính thức được sử dụng công khai. Nói “Chủ tịch Hồ Chí Minh” là diễn đạt theo ngữ pháp của người Việt Nam, còn nói “Hồ Chủ tịch” là diễn đạt theo ngữ pháp của người Trung Quốc.

Từ thời điểm sau ngày thành lập nước 2/9/1945, cho đến ngày 25/8/1969, trong tất cả văn bản của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều sử dụng chữ ký “Hồ Chí Minh” cho danh xưng chính thức của mình trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 25/8/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Thư trả lời Tổng thống Mỹ Risớt M.Níchxơn”. Trong bức thư này, Người đã nhấn mạnh: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự. Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh gian khổ, để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình…”. Cuối thư, vẫn như thường lệ, Bác ký tên “Hồ Chí Minh”[4]. Đây là văn bản chính thức cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước khi Bác qua đời, ngày 2/9/1969.

Chỉ một vài lần hiếm hoi vào các năm 1947, 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng chữ ký với duy nhất một chữ “H”, là chữ cái đầu tiên trong danh xưng “Hồ Chí Minh”.

Từ ngày 20/10 đến ngày 20/11/1987, trong khóa họp lần thứ 24 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã thông qua Nghị quyết số 24C/18.6.5, lấy năm 1990 nhân dịp Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, để tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập với thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

                                                                                                      Trần Quỳnh

–––––––––––––––

[1], [2]. Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử (Tập 2: 1930 – 1945). Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2009

[3]. Hồ Chí Minh – Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia, Tập 4, Trang 1-3, năm 2011

[4]. Hồ Chí Minh – Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia, Tập 15, Trang 602-603, năm 2011