Sử dụng bền vững nước dưới đất các đô thị lớn

Moitruong.net.vn

– Vấn đề bảo vệ nước dưới đất là rất cấp bách, không thể để khai thác tràn lan, cần khoanh định khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất, đặc biệt là khai thác nước dưới đất vùng Đồng bằng sông Cửu Long có liên quan đến vấn đề sụt lún và sạt lở.

Theo báo cáo của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, hiện nay, cả nước có 795 đô thị, với tỷ lệ đô thị hoá đạt 35,2%, gồm: 02 đô thị đặc biệt (Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh), 17 đô thị loại I, 25 đô thị loại II, 41 đô thị loại III, 84 đô thị loại IV và 626 đô thị loại V. Việc khai thác nước dưới đất để cung cấp cho các đô thị đã góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Tuy nhiên, trong quá trình khai thác nước đã nảy sinh và tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động xấu tới nguồn tài nguyên nước dưới đất như: cạn kiệt nguồn nước, gia tăng quá trình ô nhiễm, xâm nhập mặn nước dưới đất.

Ảnh minh họa. Nguồn Internet

Xác định tầm quan trọng của tài nguyên nước dưới đất đối với phát triển kinh tế – xã hội ở các đô thị nước ta hiện nay và trong nhiều năm tới, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 323/QĐ-TTg ngày 18/2/2013 về việc phê duyệt Đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn”, nhằm mục tiêu trên cơ sở đánh giá nguồn nước dưới đất ở các đô thị lớn, đề xuất các giải pháp kỹ thuật để bảo vệ, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu tình trạng cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn nước dưới đất cho các đô thị lớn. Giai đoạn I của Đề án được thực hiện từ năm 2013-2018 tại 09 đô thị trọng điểm là: Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Dương, Quy Nhơn, Vũng Tàu, Buôn Mê Thuột, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Mỹ Tho.

Kết quả của Đề án đã đánh giá lại toàn bộ thực trạng về tài nguyên nước dưới đất của 9 đô thị lớn; thực trạng khai thác, sử dụng và những tồn tại, các nguy cơ cũng như nguyên nhân gây ra các tình trạng cạn kiệt, ô nhiễm, nhiễm mặn, sụt lún nền đất. Từ kết quả đó, đánh giá được tài nguyên này hiện có bao nhiêu, đang khai thác như thế nào, những vấn đề gì bất cập và phải khai thác ra sao cho bền vững, ổn định lâu dài; đồng thời đưa ra các giải pháp bảo vệ nước dưới đất cho các đô thị lớn.

Cụ thể là đã làm sáng tỏ được cấu trúc địa chất thủy văn, điều kiện tồn tại, sự phân bố của các tầng chứa nước ở 9 đô thị lớn; xác định được tổng tiềm năng tài nguyên nước dưới đất, đánh giá đầy đủ nhất về hiện trạng chất lượng nguồn nước dưới đất, phân vùng các khu vực nước dưới đất có chất lượng tốt, bảo đảm cấp nước cho ăn uống sinh hoạt và phát triển kinh tế của 9 đô thị; thống kê đầy đủ và chi tiết tình hình khai thác sử dụng nước dưới đất, các nguồn gây ô nhiễm nước dưới đất, đồng thời đánh giá được các nguy cơ ô nhiễm, nhiễm mặn và các tác động ảnh hưởng đến tài nguyên nước dưới đất tại 9 đô thị.

Từ thực tiễn và những kết quả đạt được của Giai đoạn I, cho thấy việc tiếp tục triển khai thực hiện Giai đoạn II của Đề án là thực sự cần thiết và cấp bách. Theo đó, Giai đoạn II của Đề án sẽ tiếp tục được thực hiện tại 8 đô thị, bao gồm: Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Quảng Ngãi, Tuy Hòa, Long Xuyên, Rạch Giá, Bạc Liêu, Cà Mau với tổng diện tích là 2.746 km2. Kết quả đánh giá nguồn nước dưới đất qua đó, đề xuất các giải pháp kỹ thuật để bảo vệ, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu tình trạng cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn nước dưới đất tại các đô thị lớn.

Cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường của Đề án sẽ được sử dụng lâu dài chung trong cộng đồng; là nguồn tài liệu phong phú cho việc thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học tiếp theo.

Hà Anh (T/h)