Chính sách tiền lương thay đổi thế nào từ năm 2021?

Moitruong.net.vn

– Bộ luật Lao động 2019 sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày 1/1/2021, hàng loạt chính sách liên quan đến tiền lương cũng có sự thay đổi từ đầu năm 2021.

Được ủy quyền cho người khác nhận lương

Theo Điều 94 Bộ luật Lao động 2019, người lao động được ủy quyền cho người khác nhận lương trong trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp. Tuy nhiên, người được ủy quyền có nhận được tiền lương của người lao động hay không sẽ phụ thuộc vào 2 yếu tố là việc ủy quyền phải hợp pháp và người sử dụng lao động đồng ý.

Trong Bộ luật Lao động 2012, nội dung này không được quy định. Việc cho phép người lao động ủy quyền cho người khác nhận lương được cho là hợp lý, nhất là trong trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn không thể trực tiếp nhận lương.

Ảnh minh họa

Không còn lương tối thiểu ngành

Bộ luật Lao động quy định, mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội.

Theo Điều 91 Bộ luật Lao động 2012, mức lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ và được xác lập theo vùng, ngành. Tuy nhiên, tại Bộ luật Lao động 2019, mức lương tối thiểu chỉ còn được xác lập theo vùng, ấn định theo tháng, giờ. Như vậy, mức lương tối thiểu ngành sẽ không còn được áp dụng từ 1/1/2021.

Cũng từ năm 2021, Chính phủ quyết định và công bố mức lương tối thiểu trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng Tiền lương quốc gia, trong đó bao gồm cả tiền lương tối thiểu vùng, tiền lương tối thiểu theo giờ và tiền lương tối thiểu theo tháng. Trước đó, tại Bộ luật Lao động 2012 chỉ quy định Chính phủ công bố mức lương tối thiểu vùng.

Ngoài ra, trong Bộ luật Lao động 2019 cũng bổ sung thêm các tiêu chí điều chỉnh lương tối thiểu, bao gồm: mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ; tương quan giữa mức lương tối thiểu và mức lương trên thị trường; chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế; quan hệ cung, cầu lao động; việc làm và thất nghiệp; năng suất lao động và khả năng chi trả của doanh nghiệp.

Trước đó, ở Bộ luật Lao động 2012, mức lương tối thiểu vùng điều chỉnh chỉ dựa trên 3 căn cứ gồm: nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ; điều kiện kinh tế – xã hội và mức tiền lương trên thị trường.

Một điểm đáng chú ý nữa liên quan đến lương tối thiểu trong năm 2021 là rất có thể lương tối thiểu sẽ không tăng. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã báo cáo Chính phủ về việc không tăng tiền lương tối thiểu vùng năm 2021.

Nếu được Chính phủ đồng ý thì năm 2021 tới đây mức lương tối thiểu vùng sẽ tiếp tục thực hiện như năm 2020.

Có thêm ngày nghỉ hưởng nguyên lương

Từ năm 2021, theo quy định tại Điều 113 của Bộ luật Lao động 2019, người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau: 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường; 14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; 16 ngày làm việc đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

Cùng đó, Điều 112 về nghỉ lễ, Tết của bộ luật mới đã bổ sung thêm một ngày nghỉ làm việc mà vẫn hưởng nguyên lương vào dịp Quốc Khánh. Như vậy, từ năm 2021, người lao động sẽ có 2 ngày nghỉ dịp Quốc Khánh và nhận nguyên lương trong cả 2 ngày nghỉ.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu không được trả đủ lương

Theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Lao động 2019, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần báo trước cho người sử dụng lao động nếu không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 97 bộ luật này. Hiện nay, người lao động nghỉ việc phải báo trước 3 ngày.

Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào tiền lương của doanh nghiệp

Điều 93 Bộ luật Lao động 2019 quy định, doanh nghiệp được chủ động trong việc xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động trên cơ sở thương lượng, thoả thuận với người lao động.

Tiền lương trả cho người lao động là số tiền để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương theo công việc hoặc chức danh không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.

Doanh nghiệp phải gửi bảng kê trả lương chi tiết cho người lao động

Nhằm minh bạch tiền lương của người lao động, Bộ luật Lao động 2019 yêu cầu mỗi lần trả lương, người sử dụng lao động phải thông báo bảng kê trả lương người lao động, trong đó ghi rõ: Tiền lương; Tiền lương làm thêm giờ; Tiền lương làm việc vào ban đêm; Nội dung và số tiền bị khấu trừ (nếu có)…

Trả lương qua thẻ ATM, người sử dụng lao động phải trả phí mở tài khoản

Khoản 2, Điều 94 Bộ luật Lao động 2012 quy định khi trả lương qua tài khoản ngân hàng, người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận về các loại phí liên quan đến việc mở và duy trì tài khoản. Tuy nhiên, tại Bộ luật Lao động 2019 quy định việc trả các loại phí liên quan đến mở tài khoản và phí chuyển tiền là trách nhiệm bắt buộc của người sử dụng lao động.

Cấm ép người lao động dùng lương để mua hàng hóa, dịch vụ của công ty

Bộ luật Lao động 2019 quy định người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động. Đáng chú ý, người sử dụng lao động cũng không được ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.

Phải đền bù cho người lao động nếu chậm trả lương

Điều 97, Bộ luật Lao động 2019 quy định, trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn cho người lao động thì không được chậm quá 30 ngày.

Nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.

Minh Châu