Quản trị chặt chẽ việc sử dụng AI trong hoạt động xuất bản
Việc ứng dụng AI trong hoạt động xuất bản cần được quy định rõ về tiêu chí, phương pháp đánh giá và các yêu cầu kỹ thuật; đồng thời xây dựng cơ chế xác định, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm đối với nội dung do AI tạo ra nhằm tạo hành lang pháp lý để khuyến khích ứng dụng, phát triển AI trong lĩnh vực xuất bản, vừa bảo đảm không để AI trở thành một “khoảng trống trách nhiệm” trong quá trình sáng tạo, biên tập và phát hành xuất bản phẩm.
Sáng 09/8, tiếp tục Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Một trong những nội dung được quan tâm là việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động xuất bản.
Các đại biểu nhận định, dự thảo Luật đã thể chế hóa được chủ trương tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản, đồng thời chú trọng ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong hoạt động xuất bản. Nhiều vấn đề liên quan tới đổi mới quản lý, phát triển xuất bản trong môi trường số; ứng dụng khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xuất bản; quản lý xuất bản trên không gian mạng và trách nhiệm của các chủ thể liên quan; phát triển xuất bản số đi đôi với bảo vệ quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ đã được các đại biểu quan tâm cho ý kiến.
Xác định “biên giới" của Luật xuất bản trên không gian mạng
Phát biểu thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản, đại biểu Nguyễn Vũ Trung, Đoàn ĐBQH thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh, cần xác định rõ “biên giới” của Luật Xuất bản trên không gian mạng.
Theo đại biểu, tại Điều 4 về Giải thích từ ngữ, dự thảo Luật hiện quy định “nội dung có tính chất xuất bản trên không gian mạng” là tác phẩm, tài liệu được tạo lập dưới hình thức tương tự xuất bản phẩm và phổ biến đến công chúng.
Bày tỏ băn khoăn về khái niệm "tương tự xuất bản phẩm", đại biểu đặt vấn đề, một báo cáo khoa học dạng PDF, một luận văn trong kho dữ liệu mở, một cẩm nang doanh nghiệp, một podcast, newsletter hoặc một tài liệu trên website có thể đều mang hình thức "tương tự xuất bản phẩm". Nếu không làm rõ thì ranh giới giữa xuất bản, báo chí, mạng xã hội, cơ sở dữ liệu, kho học liệu, thông tin thông thường trên internet sẽ rất khó xác định.
Đại biểu Nguyễn Vũ Trung đề nghị Luật thiết kế rõ ba tầng: xuất bản phẩm, sản phẩm thông tin thực sự có tính chất xuất bản, và thông tin thông thường trên internet. Đồng thời, loại trừ rõ bài đăng mạng xã hội, blog cá nhân, trao đổi cá nhân, dữ liệu nghiên cứu mở, thông tin nội bộ trừ khi được tổ chức thành hoạt động xuất bản.
“Nếu không xác định được biên giới của Luật Xuất bản trên không gian mạng thì cơ quan quản lý khó thực thi, còn người dân và doanh nghiệp cũng không biết từ lúc nào một file PDF, một podcast hay một kho học liệu lại trở thành đối tượng của pháp luật xuất bản”, đại biểu nêu ý kiến.

Phát biểu thảo luận tại hội trường, đại biểu Đoàn Hùng Vũ, Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp nhận định, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản đã thể chế hóa được chủ trương tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản, đồng thời chú trọng ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong hoạt động xuất bản.
Góp ý cụ thể đối với việc sửa đổi, bổ sung Điều 4 về Giải thích từ ngữ, đại biểu Đoàn Hùng Vũ đề nghị cần tiếp tục rà soát, giải thích từ ngữ để làm rõ hơn ranh giới pháp lý giữa “Xuất bản phẩm điện tử” và “Nội dung có tính chất xuất bản trên không gian mạng”. Đại biểu nhấn mạnh, hai loại nội dung này có nhiều điểm tương đồng về hình thức và phương thức phổ biến, trong khi quy trình và trách nhiệm pháp lý lại khác nhau.
Cũng quan tâm tới quy định về “nội dung có tính chất xuất bản trên không gian mạng”, đại biểu Nguyễn Phạm Duy Trang, Đoàn ĐBQH thành phố Hồ Chí Minh đề nghị cần làm rõ nguyên tắc “chốt” để tránh chồng lấn với pháp luật chuyên ngành về báo chí, thông tin điện tử, mạng xã hội…
Cụ thể, tại khoản 18 Điều 4, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc: “Việc xác định nội dung có tính chất xuất bản trên không gian mạng căn cứ vào bản chất, mục đích, cấu trúc và phương thức phổ biến nội dung, không căn cứ vào nền tảng hoặc phương tiện cung cấp nội dung.”
“Không quản lý Internet bằng Luật Xuất bản; chỉ quản lý những nội dung số có bản chất là xuất bản phẩm”, đại biểu Nguyễn Phạm Duy Trang nhấn mạnh.
Đồng thời, đại biểu cũng đề nghị Chính phủ khi quy định chi tiết cần phân định rõ với podcast, khóa học trực tuyến, nội dung báo chí, nội dung trao đổi cá nhân và các hình thức cung cấp thông tin khác.
Cần hành lang pháp lý rõ ràng đối với văn học mạng
Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Hoàng Minh Hiếu, Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An nêu lên một thực tế đáng lưu ý, đó là sau thời điểm năm 2012, khi Luật Xuất bản được ban hành, văn học mạng đã trở thành một nền công nghiệp có quy mô lớn ở nhiều nước. Năm 2025, Trung Quốc có hơn 33 triệu tác phẩm mạng và hơn 500 triệu độc giả. Văn học mạng cũng là điểm khởi đầu cho chuỗi công nghiệp văn hóa như phim, trò chơi điện tử. Thị trường chuyển thể tài sản trí tuệ từ văn học mạng ở Trung Quốc đã đạt 367 tỷ Nhân dân tệ, gấp hơn 7 lần so với thị trường xuất bản truyền thống. Ở Hàn Quốc, quy mô ngành truyện tranh mạng năm 2024 cũng đạt quy mô khoảng 2.000 tỷ Won. Đại biểu nhận định, tại Việt Nam, tiềm năng phát triển văn học mạng là rất lớn, bởi Việt Nam có dân số trẻ, có tinh thần học hỏi cao, tỷ lệ dùng internet ở top đầu trong khu vực.
Từ thực tế này, quan tâm cho ý kiến đối với vấn đề xuất bản tác phẩm trên không gian mạng, đại biểu Hoàng Minh Hiếu nhận định, dự thảo Luật được thiết kế trên giả định truyền thống là một tác phẩm được xuất bản khi đã có bản thảo hoàn chỉnh. “Tuy nhiên, điều này chưa phù hợp với tinh thần của văn học mạng, khi tác phẩm thường được hình thành dần qua nhiều chương và qua các lần tương tác với độc giả. Và trong quá trình đó, nội dung là do tác giả tự đăng tải, chức năng biên tập chỉ nằm ở nhà chủ quản các nền tảng chứ không phải ở nhà xuất bản. Đây là một mô hình hoàn toàn khác với xuất bản truyền thống”, đại biểu Hoàng Minh Hiếu nêu rõ.
Phân tích khoản 18 Điều 4, dự thảo Luật định nghĩa nội dung có tính chất xuất bản trên không gian mạng với tiêu chuẩn tương tự một xuất bản phẩm, đại biểu cho rằng, tiêu chí này là đúng với một cuốn sách điện tử nhưng không đúng với một tác phẩm văn học mạng. Vì vậy, đại biểu đề nghị chuyển tiêu chí nhận diện nội dung có tính chất xuất bản trên không gian mạng sang "được công bố có hệ thống, được lưu trữ và có thể truy cập lại". Việc quy định như vậy để xác định rõ tác phẩm hình thành dần theo các chương vẫn thuộc phạm vi điều chỉnh dù là tác phẩm chưa được hoàn thành.
Cùng với nội dung này, đại biểu Hoàng Minh Hiếu đề nghị bổ sung quy định tại Điều 22 và Điều 28 cho tác phẩm công bố theo định kỳ theo nguyên tắc là đăng ký một lần theo tác phẩm chứ không theo từng chương, và việc nộp lưu chiểu bản hoàn chỉnh tại thời điểm kết thúc đăng tải hoặc tại thời điểm chuyển tác phẩm thành xuất bản phẩm điện tử.
Đại biểu cũng đề nghị bổ sung một Điều mới về nghĩa vụ của nền tảng phổ biến tác phẩm văn học trên mạng theo nguyên tắc phân tầng. Nền tảng có tính chất chuyên nghiệp phải đăng ký hoạt động, có người chịu trách nhiệm nội dung và có bộ phận biên tập có đủ năng lực. Nền tảng phải có cơ chế xác thực danh tính thực của tác giả trong hệ thống, phải tổ chức phân loại nội dung theo độ tuổi và có bộ lọc quảng cáo an toàn, đồng thời phải lưu giữ nhật ký phục vụ cho công tác hậu kiểm.
“Với tác phẩm văn học xuất bản trên mạng thì việc giữ bản cuối cùng là chưa đủ. Cơ quan quản lý nhà nước phải biết ai công bố, phiên bản nào, thời điểm nào, chương nào bị sửa và quyền thuộc về ai. Vì vậy, đề nghị quy định các nền tảng phải cung cấp các thông tin này cho cơ quan quản lý nhà nước. Đồng thời, cần yêu cầu kết nối dữ liệu từ nền tảng đến cơ quan quản lý nhà nước để tự động thu nhận bản lưu định kỳ đối với các tác phẩm có quy mô phổ biến lớn hoặc có giá trị. Đây là hạ tầng vừa phục vụ quản lý nhà nước, vừa phục vụ chính doanh nghiệp trong giao dịch bản quyền”, đại biểu Hoàng Minh Hiếu kiến nghị.
Làm rõ quy định về nộp lưu chiểu đối với xuất bản phẩm điện tử
Quan tâm tới quy định về cơ chế lưu chiểu và hậu kiểm, nhất là đối với xuất bản phẩm điện tử, đại biểu Nguyễn Văn Mạnh, Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ phân tích, khoản 4 Điều 28 dự thảo quy định: Sau khi hoàn thành nộp lưu chiểu, chủ thể được quyết định thời điểm phát hành xuất bản phẩm trong thời hạn 12 tháng. Tuy nhiên, theo đại biểu, quy định này chưa xác định rõ thời điểm được phát hành ngay hay phải chờ một khoảng thời gian là bao nhiêu ngày để cơ quan quản lý hậu kiểm, chưa quy định cách xử lý nếu bản nộp lưu chiểu khác với bản phát hành. “Đây là khâu rất quan trọng vì nếu không có chuẩn đối chiếu và dấu vết phiên bản thì việc lưu chiểu chỉ mang tính hình thức”, đại biểu Nguyễn Văn Mạnh nêu rõ.
Đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo quy định rõ bản nộp lưu chiểu phải là bản hoàn chỉnh, đồng nhất với bản phát hành. Đối với bản điện tử phải kèm theo mã kiểm tra toàn vẹn, định dạng lưu trữ và dữ liệu đặc tả. Mọi thay đổi nội dung sau khi lưu chiểu phải được ghi nhận và nộp lại theo mức độ thay đổi.
“Hệ thống lưu chiểu điện tử cần được xác nhận tự động tại thời điểm tiếp nhận, bảo đảm an toàn, bí mật đối với xuất bản phẩm chưa phát hành và khả năng bảo quản lâu dài. Cần xác định rõ trách nhiệm phối hợp, chia sẻ dữ liệu giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với địa phương và Thư viện Quốc gia Việt Nam để tránh nộp trùng lặp”, đại biểu Nguyễn Văn Mạnh đề xuất.
Thống nhất với ý kiến của đại biểu Nguyễn Văn Mạnh về nộp lưu chiểu đối với xuất bản phẩm điện tử, đại biểu Đoàn Hùng Vũ, Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp nêu rõ, Điều 28 quy định xuất bản phẩm điện tử phải nộp tệp điện tử thông qua hệ thống lưu chiểu điện tử. Tuy nhiên, nếu chỉ yêu cầu “nộp tệp điện tử” mà không quy định rõ định dạng, tiêu chuẩn dữ liệu, mã định danh, thông tin phiên bản, chữ ký số, dấu thời gian, quyền truy cập, bảo mật và trách nhiệm cập nhật khi có thay đổi, thì lưu chiểu điện tử khó trở thành công cụ quản lý hiệu quả. Cơ quan quản lý có thể không xác định được đâu là bản gốc được phê duyệt, đâu là bản đang phát hành, đâu là bản đã bị chỉnh sửa. Từ đó khó xử lý tranh chấp, vi phạm nội dung, vi phạm bản quyền hoặc yêu cầu thu hồi, gỡ bỏ.
Do đó, đại biểu Đoàn Hùng Vũ đề nghị bổ sung quy định về tiêu chuẩn và quy trình nộp lưu chiểu điện tử theo hướng chặt chẽ hơn. “Xuất bản phẩm điện tử khi nộp lưu chiểu cần kèm theo bộ dữ liệu đặc tả thống nhất, bao gồm tên xuất bản phẩm, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, nhà xuất bản, quyết định xuất bản, thời điểm phát hành, định dạng tệp, mã định danh, số phiên bản và phạm vi phát hành. Bản nộp lưu chiểu cần được xác thực bằng chữ ký số hoặc phương thức xác thực điện tử phù hợp, gắn dấu thời gian để xác định rõ thời điểm nộp, đồng thời áp dụng giải pháp kỹ thuật để bảo đảm tính toàn vẹn của tệp điện tử”, đại biểu Đoàn Hùng Vũ kiến nghị.
Luật hóa nguyên tắc quản trị trí tuệ nhân tạo (AI) trong xuất bản
Quản lý việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động xuất bản cũng là vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm góp ý. Đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Đoàn ĐBQH thành phố Huế đánh giá cao việc dự thảo Luật đã bổ sung Điều 27, yêu cầu xuất bản phẩm có nội dung được tạo lập toàn bộ hoặc một phần bằng AI phải được thông báo và gắn nhãn. Tuy nhiên, theo đại biểu, gắn nhãn mới giải quyết vấn đề minh bạch, chưa làm rõ trách nhiệm pháp lý. Đại biểu đề nghị dự thảo Luật khẳng định rõ sử dụng AI không làm thay đổi trách nhiệm của tổ chức, cá nhân quyết định xuất bản và phát hành. Việc sử dụng xuất bản phẩm, dữ liệu huấn luyện AI phải tuân thủ pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan. Chi tiết kỹ thuật nên giao cho Chính phủ quy định.
“Trong thời đại AI, pháp luật phải trả lời 3 câu hỏi. Nội dung được tạo lập, thay đổi thế nào? Ai chịu trách nhiệm? Và khi có vấn đề, Nhà nước có thể truy xuất, xử lý ra sao? Nếu làm được điều đó thì Luật sẽ không chỉ giải quyết vướng mắc hôm nay mà còn tạo khung pháp lý bền vững cho một nền xuất bản số”, đại biểu Nguyễn Thị Sửu nhấn mạnh.
Thống nhất với ý kiến của đại biểu Nguyễn Thị Sửu, đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh đề nghị bổ sung trách nhiệm đối với việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử; nhấn mạnh: Đối với tổ chức, cá nhân sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để hỗ trợ tạo lập, biên tập, hiệu đính hoặc xử lý nội dung xuất bản phẩm điện tử thì AI chỉ là công cụ hỗ trợ; tổ chức, cá nhân xuất bản, phát hành vẫn là chủ thể chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, tính chính xác và nội dung của xuất bản phẩm.
“Trí tuệ nhân tạo ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong hoạt động xuất bản, tham gia sâu vào quá trình tạo lập nội dung. Tuy nhiên, AI không phải là chủ thể pháp luật nên không thể thay thế trách nhiệm của tổ chức, cá nhân xuất bản. Việc bổ sung quy định này sẽ bảo đảm nguyên tắc xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm, nâng cao tính minh bạch và hạn chế việc lợi dụng AI để né tránh trách nhiệm pháp lý, do đó cần có quy định đủ rõ để vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, vừa bảo vệ quyền tác giả và quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng”, đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà nêu rõ.
Đóng góp ý kiến với nội dung này, đại biểu Nguyễn Phạm Duy Trang, Đoàn ĐBQH thành phố Hồ Chí Minh nhận định, dự thảo Luật đã đưa AI vào chính sách phát triển xuất bản, nhưng tại Điều 27 chưa quy định rõ trách nhiệm khi AI tham gia tạo lập nội dung xuất bản phẩm.
Đại biểu đề nghị bổ sung một khoản mới vào Điều 27, với ba nguyên tắc:
Một là, minh bạch: Khi AI tham gia đáng kể vào việc tạo lập nội dung cốt lõi thì phải có cơ chế công khai hoặc xác định được mức độ tham gia.
Hai là, truy xuất: Phải có khả năng xác định nguồn dữ liệu và quá trình tạo lập nội dung ở mức cần thiết để kiểm tra, bảo vệ quyền tác giả và xử lý vi phạm.
Ba là, trách nhiệm: Việc sử dụng AI không làm giảm, chuyển giao hoặc miễn trừ trách nhiệm pháp lý của nhà xuất bản, người đứng đầu nhà xuất bản, biên tập viên và các chủ thể có liên quan.
Đồng thời, theo đại biểu, cần khẳng định nguyên tắc: Không sử dụng trái pháp luật tác phẩm, dữ liệu hoặc xuất bản phẩm có bản quyền để huấn luyện AI.
Góp ý với Điều 6 và Điều 27, đại biểu Nguyễn Phạm Duy Trang cho rằng, Luật chỉ nên quy định nguyên tắc; không quy định danh mục rủi ro, giao Chính phủ quy định tiêu chí và phương pháp đánh giá; yêu cầu kỹ thuật, cơ chế xác định và truy xuất.
“Như vậy, chúng ta vừa khuyến khích AI phát triển, vừa không để AI trở thành “khoảng trống trách nhiệm” trong xuất bản”, đại biểu nêu rõ.




