Tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định mới
Quy định mới về tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước vừa tạo nguồn thu cho ngân sách, vừa hướng tới sử dụng tài nguyên nước tiết kiệm, hiệu quả và có trách nhiệm hơn.
Luật Tài nguyên nước năm 2023 xác định tài nguyên nước là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Theo đó, tổ chức, cá nhân được cấp phép khai thác nước để phục vụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải thực hiện nghĩa vụ tài chính tương ứng với giá trị tài nguyên nước được khai thác, sử dụng.
Quy định về tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được cụ thể hóa tại Nghị định số 54/2024/NĐ-CP và được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 23/2026/NĐ-CP. Các quy định này là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thuế và chủ công trình xác định, kê khai và thực hiện nghĩa vụ tài chính.

Không phải mọi trường hợp khai thác nước đều phải nộp tiền
Theo Điều 69 Luật Tài nguyên nước năm 2023, tổ chức, cá nhân thuộc trường hợp phải có giấy phép khai thác tài nguyên nước phải nộp tiền cấp quyền khi khai thác nước mặt để phát điện thương mại hoặc khai thác nước phục vụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp và sinh hoạt theo quy định.
Tuy nhiên, nghĩa vụ này không áp dụng đối với tất cả các hoạt động khai thác, sử dụng nước. Một số trường hợp được loại trừ như khai thác nước biển; khai thác nước thuộc trường hợp không phải kê khai, đăng ký hoặc cấp phép; khai thác nước để tạo nguồn, ngăn mặn, chống ngập, tạo cảnh quan theo quy định.
Pháp luật cũng quy định các trường hợp được miễn tiền cấp quyền, trong đó có nước cấp cho sinh hoạt của người dân tại khu vực biên giới, hải đảo, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn; dự án có công trình khai thác nước được Chính phủ bảo lãnh và thời gian công trình phải ngừng khai thác do sự cố bất khả kháng.
Bên cạnh chính sách miễn, giảm còn được áp dụng trong một số trường hợp nhằm chia sẻ rủi ro và khuyến khích sử dụng nước tiết kiệm.
Cụ thể, công trình phải cắt, giảm hoặc tạm dừng khai thác theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền được giảm tiền tương ứng với sản lượng nước bị cắt giảm. Công trình có giải pháp tuần hoàn, tái sử dụng từ 20% lượng nước trở lên hoặc hồ chứa bổ sung dung tích phòng lũ cho hạ du được giảm 5%.
Đối với công trình khai thác nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, tiền cấp quyền được giảm 100% trong thời gian xảy ra hạn hán, thiếu nước hoặc xâm nhập mặn theo quy định.
Lượng nước, mục đích sử dụng quyết định số tiền phải nộp
Về nguyên tắc, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được xác định trên cơ sở sản lượng khai thác, giá tính tiền và mức thu tương ứng với mục đích sử dụng nước, đồng thời có các hệ số điều chỉnh theo quy định.
Đối với công trình thủy điện, tiền cấp quyền được tính theo công thức:
Tiền cấp quyền = Sản lượng điện × Giá tính tiền × Mức thu.
Trong đó, sản lượng điện được xác định theo điện lượng trung bình hằng năm trong hồ sơ thiết kế. Giá tính tiền bằng 70% giá điện dùng để tính thuế tài nguyên nước. Mức thu đối với sản xuất thủy điện là 1%.
Đối với các trường hợp khai thác nước phục vụ mục đích khác, mức thu được xác định theo mục đích sử dụng và nằm trong khoảng từ 0,05% đến 2%.
Cụ thể, khai thác nước phục vụ kinh doanh, dịch vụ áp dụng mức thu 2%; sản xuất áp dụng 1,5%; nước sử dụng cho thủy điện là 1%.
Một số mục đích có mức thu thấp hơn. Nước dưới đất dùng để tưới cây công nghiệp dài ngày hoặc sử dụng cho làm mát, tạo hơi, gia nhiệt áp dụng mức 0,2%. Nước dưới đất dùng cho nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi và nước khai thác cho sinh hoạt áp dụng mức 0,1%.
Mức thu 0,05% được áp dụng đối với nước mặt sử dụng cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và nước dưới đất dùng để tưới lúa, hoa màu, cây trồng khác.
Ngoài sản lượng và mục đích sử dụng, việc tính tiền còn tính đến các hệ số phản ánh chất lượng nguồn nước, loại nguồn nước và điều kiện khai thác. Vì vậy, cùng khai thác một lượng nước nhưng tại các nguồn nước hoặc điều kiện khai thác khác nhau, số tiền cấp quyền phải nộp có thể không giống nhau.
Khai thác nhiều mục đích phải tính riêng từng phần
Một điểm cần lưu ý đối với các công trình sử dụng nước cho nhiều mục đích là sản lượng nước phải được xác định riêng cho từng mục đích để làm căn cứ tính tiền.
Trường hợp sản lượng nước không xác định rõ mục đích sử dụng, phần sản lượng này sẽ được áp dụng mức thu cao nhất trong các mục đích sử dụng được ghi trong giấy phép.
Quy định này nhằm bảo đảm nghĩa vụ tài chính được xác định sát với thực tế khai thác, đồng thời hạn chế tình trạng kê khai không đầy đủ hoặc phân bổ sản lượng theo hướng làm giảm số tiền phải nộp.
Đối với chủ công trình, việc theo dõi, ghi nhận đầy đủ sản lượng nước khai thác và mục đích sử dụng vì vậy có ý nghĩa quan trọng, nhất là đối với các công trình có nhiều dây chuyền sản xuất hoặc sử dụng nước đồng thời cho nhiều mục đích.
Hồ sơ phải kê khai, chứng minh đầy đủ
Hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước gồm bản kê khai theo Mẫu số 57 và các tài liệu có liên quan để chứng minh số liệu kê khai.
Đối với công trình đã vận hành, việc thẩm định hồ sơ tính tiền được thực hiện cùng với hồ sơ cấp, gia hạn hoặc điều chỉnh giấy phép theo quy định.
Đối với công trình chưa vận hành tại thời điểm được cấp phép, chủ công trình phải lập và nộp hồ sơ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bắt đầu vận hành.
Theo quy định, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh thực hiện việc phê duyệt, điều chỉnh, truy thu tiền cấp quyền theo thẩm quyền cấp phép. Tại địa phương, cơ quan chuyên môn về tài nguyên nước thuộc UBND cấp tỉnh thực hiện thẩm định hồ sơ; cơ quan thuế ban hành thông báo nộp tiền theo quy định.
Chủ giấy phép có thể lựa chọn hình thức nộp tiền theo quy định, trong đó có nộp một lần hoặc nộp định kỳ. Trường hợp đáp ứng điều kiện, chủ công trình có thể đề xuất nộp một lần cho toàn bộ thời gian được phê duyệt.
Khoản tiền cấp quyền được nộp về địa phương nơi có công trình khai thác nước.
Cần tăng đối chiếu giữa giấy phép và thực tế khai thác
Thực tế quản lý cho thấy, việc tính và thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước không chỉ phụ thuộc vào hồ sơ giấy phép mà còn đòi hỏi dữ liệu về tình hình khai thác thực tế.
Do đó, các địa phương cần thường xuyên cập nhật bảng giá tính thuế tài nguyên, phân vùng chất lượng nguồn nước và khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất để bảo đảm cơ sở tính tiền phù hợp với điều kiện thực tế.
Đồng thời, lưu lượng khai thác được ghi trong giấy phép cần được đối chiếu với số liệu quan trắc, theo dõi thời gian vận hành và mục đích sử dụng nước. Qua đó, cơ quan quản lý có thể kịp thời phát hiện những trường hợp khai thác vượt quy mô được cấp phép, tăng số ngày vận hành hoặc phát sinh mục đích sử dụng nước nhưng chưa thực hiện thủ tục điều chỉnh giấy phép.
Đáng chú ý, Nghị định số 23/2026/NĐ-CP quy định đối với công trình khai thác nước mặt cấp cho nuôi trồng thủy sản đã có giấy phép nhưng chưa được phê duyệt tiền cấp quyền, chủ công trình phải hoàn thành việc nộp hồ sơ trước ngày 31/12/2026.
Quy định này đặt ra yêu cầu các địa phương sớm rà soát các công trình thuộc diện phải thực hiện nghĩa vụ tài chính, đồng thời hướng dẫn chủ công trình hoàn thiện hồ sơ, tránh tình trạng dồn hồ sơ vào thời điểm cuối năm.
Về lâu dài, cơ chế tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước không chỉ nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách mà còn là một công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên. Việc gắn nghĩa vụ tài chính với lượng nước khai thác, mục đích sử dụng và điều kiện nguồn nước sẽ góp phần thúc đẩy tổ chức, cá nhân tính toán hiệu quả sử dụng nước, tăng cường tuần hoàn, tái sử dụng và từng bước chuyển từ khai thác theo nhu cầu sang sử dụng tài nguyên nước tiết kiệm, hiệu quả và bền vững.
![[Infographic] Quy định tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước](https://mtcs.1cdn.vn/2026/08/11/a1.png)



