Ba phương pháp tạo tín chỉ các-bon tại Việt Nam
Thị trường các-bon trong nước đang từng bước hình thành, kéo theo nhu cầu xây dựng các dự án giảm phát thải và tạo tín chỉ các-bon có giá trị pháp lý, kỹ thuật và thương mại. Theo quy định hiện hành, có 3 phương pháp tạo tín chỉ các-bon được áp dụng đối với các dự án thực hiện theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước.
Theo Nghị định số 119/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn, đối tượng xây dựng và thực hiện dự án theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước phải là cơ quan, tổ chức trên lãnh thổ Việt Nam.
Việc quy định rõ phương pháp tạo tín chỉ là cơ sở quan trọng để bảo đảm tính minh bạch, khả năng kiểm chứng và giá trị pháp lý của tín chỉ được hình thành từ các dự án giảm phát thải. Những tín chỉ được tạo ra từ dự án áp dụng phương pháp phù hợp, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật sẽ có thể được công nhận, đưa vào lưu thông, mua bán, chuyển nhượng hoặc sử dụng cho mục đích bù trừ theo quy định của thị trường các-bon trong nước.

Ba con đường tạo tín chỉ các-bon
Theo quy định, các dự án thực hiện theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước có thể áp dụng một trong ba nhóm phương pháp.
Một là, phương pháp do các bộ quản lý lĩnh vực xây dựng và ban hành.
Đây là nhóm phương pháp được các bộ quản lý lĩnh vực nghiên cứu, xây dựng, ban hành và công bố trên Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon, đồng thời đăng tải trên trang thông tin điện tử của bộ.
Việc để các bộ quản lý lĩnh vực trực tiếp xây dựng và công bố phương pháp giúp bảo đảm phương pháp tạo tín chỉ phù hợp với đặc thù từng ngành, lĩnh vực, đồng thời gắn hoạt động tạo tín chỉ với mục tiêu, kế hoạch giảm phát thải khí nhà kính đã được xác định.
Hai là, phương pháp được Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu công nhận.
Các phương pháp thuộc nhóm này được áp dụng cho những dự án thực hiện theo Cơ chế Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris.
Tuy nhiên, không phải tất cả các phương pháp quốc tế đều được áp dụng một cách tự động tại Việt Nam. Các bộ quản lý lĩnh vực có trách nhiệm rà soát, lựa chọn những phương pháp phù hợp trước khi công bố trên Hệ thống đăng ký quốc gia và trang thông tin điện tử của bộ.
Đây được xem là hướng tiếp cận giúp Việt Nam tận dụng các phương pháp đã được quốc tế phát triển và công nhận, đồng thời bảo đảm sự phù hợp với điều kiện, mục tiêu quản lý và hệ thống pháp luật trong nước.
Ba là, phương pháp do tổ chức, cá nhân đề xuất.
Đây là cơ chế mở, cho phép tổ chức, cá nhân chủ động đề xuất phương pháp tạo tín chỉ mới trong trường hợp phương pháp đó chưa thuộc hai nhóm nêu trên.
Theo quy định, tổ chức hoặc cá nhân phải xây dựng hồ sơ thuyết minh và gửi tới bộ quản lý lĩnh vực để được xem xét, công nhận trước khi triển khai tạo tín chỉ.
Sau khi tiếp nhận, nếu hồ sơ đáp ứng yêu cầu, bộ quản lý lĩnh vực sẽ đăng tải hồ sơ trên trang thông tin điện tử để lấy ý kiến rộng rãi trong thời hạn 15 ngày. Trong vòng 45 ngày kể từ khi kết thúc thời gian lấy ý kiến, bộ quản lý lĩnh vực tổ chức đánh giá phương pháp thông qua hội đồng đánh giá.
Cơ chế này tạo dư địa cho doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu và các chủ thể trên thị trường phát triển những phương pháp mới, nhất là trong những lĩnh vực có tiềm năng giảm phát thải nhưng chưa có phương pháp phù hợp được ban hành.
Phương pháp mới phải đáp ứng những yêu cầu nào?
Không phải bất kỳ sáng kiến giảm phát thải nào cũng có thể trở thành một phương pháp tạo tín chỉ các-bon được công nhận.
Theo quy định, quá trình đánh giá phải xem xét nhiều yếu tố, trong đó trước hết là biện pháp giảm phát thải khí nhà kính phải phù hợp với mục tiêu và định hướng trong kế hoạch giảm phát thải của lĩnh vực.
Bên cạnh đó, phương pháp phải xác định được cách tính lượng phát thải khí nhà kính trong trường hợp chưa áp dụng và sau khi áp dụng biện pháp giảm phát thải. Các tham số phục vụ việc giám sát hoạt động của dự án cũng phải được xác định rõ ràng, minh bạch.
Một yêu cầu quan trọng khác là phương pháp phải đáp ứng các quy định kỹ thuật về đo đạc, báo cáo và thẩm định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính do các bộ quản lý lĩnh vực quy định.
Khả năng nhân rộng cũng là một tiêu chí được xem xét. Một phương pháp có giá trị không chỉ ở khả năng tạo tín chỉ cho một dự án cụ thể mà còn phải có tiềm năng được mở rộng, áp dụng rộng rãi và tạo ra hiệu quả giảm phát thải thực chất.
Sau khi được bộ quản lý lĩnh vực công nhận và công bố trên Hệ thống đăng ký quốc gia, việc sử dụng phương pháp do tổ chức, cá nhân đề xuất sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định pháp luật khác có liên quan.
Điều này đặt ra yêu cầu đối với các chủ thể xây dựng phương pháp không chỉ phải chứng minh tính khoa học, kỹ thuật và khả năng đo lường lượng giảm phát thải mà còn phải quan tâm đến quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với phương pháp sau khi được công nhận.
Tín chỉ các-bon rừng: Lĩnh vực đang có bước tiến đáng chú ý
Trong bối cảnh khung pháp lý về thị trường các-bon tiếp tục được hoàn thiện, lâm nghiệp hiện là lĩnh vực có bước tiến đáng chú ý về tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan đến tín chỉ các-bon.
Tính đến tháng 8/2026, lĩnh vực lâm nghiệp đã có Tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ các-bon rừng, mã số TCVN 14682:2026. Tiêu chuẩn do Văn phòng Chứng chỉ quản lý rừng bền vững biên soạn và được Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành.
Tiêu chuẩn xác định 5 nhóm dự án có thể tạo tín chỉ các-bon, gồm giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD+); trồng rừng mới và xúc tiến tái sinh tự nhiên (A/R); nuôi dưỡng, làm giàu rừng tự nhiên (IFM-N); nâng cao năng suất, kéo dài chu kỳ kinh doanh rừng trồng (IFM-P); và canh tác nông lâm kết hợp, cây phân tán (AFP).
Việc hình thành tiêu chuẩn quốc gia cho tín chỉ các-bon rừng có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo cơ sở kỹ thuật thống nhất cho các dự án, đồng thời góp phần chuẩn hóa quá trình xác định, đo đạc và đánh giá lượng các-bon được hấp thụ hoặc giảm phát thải từ các hoạt động lâm nghiệp.
Đây cũng là một trong những cơ sở để các nguồn lực từ thị trường các-bon có thể được kết nối với hoạt động bảo vệ, phát triển rừng, nâng cao giá trị của hệ sinh thái rừng và tạo thêm nguồn lực cho các hoạt động giảm phát thải.
Mở đường cho thị trường các-bon trong nước
Ba nhóm phương pháp tạo tín chỉ nói trên cho thấy khung pháp lý của Việt Nam đang từng bước hình thành cơ chế tương đối linh hoạt: Vừa có phương pháp do cơ quan quản lý nhà nước xây dựng, vừa tiếp nhận các phương pháp quốc tế phù hợp, đồng thời mở cửa cho tổ chức, cá nhân đề xuất phương pháp mới.
Điểm quan trọng là tín chỉ các-bon không chỉ được nhìn nhận như kết quả của một dự án môi trường mà đang dần trở thành một loại tài sản có giá trị giao dịch, gắn với yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính và trách nhiệm của các chủ thể tham gia thị trường.
Tuy nhiên, để tín chỉ thực sự có giá trị trên thị trường, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở số lượng tín chỉ được tạo ra mà còn ở chất lượng, tính minh bạch, khả năng đo lường, báo cáo, thẩm định và tránh tính trùng.
Việc hoàn thiện các phương pháp tạo tín chỉ vì vậy sẽ là một trong những nền tảng quan trọng để Việt Nam hình thành thị trường các-bon minh bạch, có khả năng kiểm chứng và từng bước kết nối với thị trường quốc tế, qua đó biến tiềm năng giảm phát thải thành nguồn lực phục vụ mục tiêu chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.




