Chuyển đổi số đưa dữ liệu thành động lực mở rộng thị trường cho hợp tác xã
Chuyển đổi số đang mở ra cơ hội nâng cao năng lực quản trị, minh bạch dữ liệu và mở rộng thị trường cho hợp tác xã, song hiệu quả cần được đo bằng năng suất, chi phí, chất lượng sản phẩm và thu nhập của thành viên.
Sáng 7/10 tại Hà Nội, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam phối hợp với các đơn vị tổ chức Diễn đàn “Chuyển đổi số trong hợp tác xã: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường”. Diễn đàn tập trung vào giải pháp giúp hợp tác xã ứng dụng công nghệ sát nhu cầu, xây dựng dữ liệu và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường.
Theo bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, vấn đề đặt ra không còn là hợp tác xã có cần chuyển đổi số hay không mà là bắt đầu từ đâu, cần hỗ trợ gì và nguồn lực nào để triển khai. Quan trọng nhất, mỗi khoản đầu tư công nghệ phải tạo ra giá trị thực tế cho hợp tác xã và thành viên.
Khảo sát của Viện Khoa học Kinh tế hợp tác cho thấy chỉ số trưởng thành chuyển đổi số của khu vực kinh tế tập thể đạt khoảng 29,5%, tương ứng mức “Bắt đầu”. Trong khi tỷ lệ thành viên hợp tác xã sử dụng smartphone đạt 4,67/5 điểm, mức sử dụng máy tính của nhân viên chỉ đạt 1,46 điểm, cho thấy khoảng trống đáng kể về kỹ năng số.

Ông Trịnh Anh Tuấn, Viện Khoa học Kinh tế hợp tác, cho biết điểm trung bình về mức độ chuyển đổi số chỉ đạt 1,28/5; sử dụng ngân hàng trực tuyến 1,44 điểm, giao tiếp khách hàng qua môi trường số 1,37 điểm, sử dụng sàn thương mại điện tử 1,24 điểm và doanh thu từ thương mại điện tử 1,2 điểm.
Từ thực tế này, các chuyên gia cho rằng hợp tác xã cần lấy dữ liệu, quản trị và thị trường làm ba trụ cột của chuyển đổi số. Dữ liệu về thành viên, vùng nguyên liệu, mùa vụ, sản lượng, chất lượng, chi phí và khách hàng khi được chuẩn hóa sẽ giúp minh bạch sản phẩm, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho biết khoảng 35% hợp tác xã đã ứng dụng truy xuất nguồn gốc, trong khi tỷ lệ sử dụng phần mềm quản trị mới đạt 15%. Giá trị nông sản có thể tăng 15-20% khi tham gia bán lẻ hiện đại, xuất khẩu; doanh thu từ kênh số bình quân tại các hợp tác xã đã chuyển đổi số đạt 12%.

Để giảm chi phí, nguyên tắc “dùng chung trước, đầu tư riêng sau” được đề xuất, ưu tiên các nền tảng có thể thuê theo tháng, xuất dữ liệu, hỗ trợ tại chỗ và bảo đảm an toàn thông tin.
Ở góc độ truy xuất nguồn gốc, ông Đào Ngọc Tuất, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh mã QR chỉ là “cửa sổ” tra cứu, còn giá trị cốt lõi nằm ở dữ liệu phía sau.
Tính đến ngày 31/8/2026, trong 793.623 sản phẩm đăng ký truy xuất nguồn gốc, chỉ 158.451 sản phẩm có đầy đủ thông tin, tương đương 20%. Trong 3.013 nông hộ đăng ký, chỉ 36 hộ cung cấp đủ dữ liệu, đạt 1,2%.
Thực tế thí điểm truy xuất nguồn gốc sầu riêng trong nửa đầu năm 2026 cho thấy hiệu quả rõ hơn khi dữ liệu được quản lý đồng bộ. Với 255 vùng trồng, 149 doanh nghiệp, 547 nông hộ và 919 lô hàng, thời gian từ thu hái đến thông quan giảm từ 15-20 ngày xuống còn 6-11 ngày.
Theo các chuyên gia, hợp tác xã cần đóng vai trò trung tâm trong hướng dẫn thành viên ghi nhật ký sản xuất, tập hợp dữ liệu lô hàng và kết nối với cơ quan quản lý, doanh nghiệp bao tiêu, nhà cung cấp công nghệ.
Chuyển đổi số vì thế không nên được đánh giá bằng số lượng phần mềm được triển khai mà bằng giá trị kinh tế tạo ra. Khi dữ liệu trở thành tài sản, công nghệ là công cụ và thị trường là đích đến, hợp tác xã sẽ có thêm năng lực giảm chi phí, nâng chất lượng, minh bạch sản phẩm và mở rộng đầu ra.




