Chặn nguồn thải ô nhiễm tại Hà Nội (Bài 5): Đốt rơm rạ, đốt rác, "nguồn thải nhỏ" nhưng không thể xem nhẹ.
Kiệt Vũ•15/10/2026 06:00
Trước mùa ô nhiễm không khí, Hà Nội cần chặn những nguồn phát thải này từ sớm, song bài toán không chỉ nằm ở việc cấm đốt, mà ở chỗ phải tạo được một con đường khác để rơm rạ, rác và phụ phẩm không trở thành những đám khói trên bầu trời đô thị.
Những đốm lửa âm ỉ trên cánh đồng, những đống rác cháy ven đường hay phụ phẩm bị đốt tự phát tưởng chỉ là những nguồn thải nhỏ lẻ. Nhưng khi khói từ hàng trăm, hàng nghìn điểm đốt cùng hiện diện trong không khí, tác động của chúng không còn nhỏ. Trước mùa ô nhiễm không khí, Hà Nội cần chặn những nguồn phát thải này từ sớm, song bài toán không chỉ nằm ở việc cấm đốt, mà ở chỗ phải tạo được một con đường khác để rơm rạ, rác và phụ phẩm không trở thành những đám khói trên bầu trời đô thị.
Một đống rơm cháy trên cánh đồng, một túi rác bị châm lửa bên đường hay những cành lá khô âm ỉ trong chiều muộn có thể chỉ tạo nên một quầng khói trong chốc lát. Nhưng bầu trời không được nhìn nhận theo từng đám cháy riêng lẻ. Khi những đốm lửa xuất hiện cùng lúc ở nhiều nơi, khói từ những nguồn phát thải nhỏ bắt đầu cộng dồn, len vào không gian sống và ở lại lâu hơn khi gió yếu, không khí ổn định. Với rơm rạ, những đám khói ấy chỉ xuất hiện theo mùa gặt, nhưng lại có thể dồn dập trong vài ngày khi hàng loạt cánh đồng cùng bước vào vụ thu hoạch. Bởi vậy, cái tưởng như nhỏ và ngắn ngủi ở từng điểm đốt vẫn cần được nhìn trong một bức tranh lớn hơn: Chất lượng không khí của cả đô thị.
Rơm rạ - Nguồn thải theo mùa
Chiều xuống, khi nhịp sống trên những cánh đồng ngoại thành chậm lại, cũng là lúc những đốm lửa có thể xuất hiện. Vào những ngày mùa, sau khi máy gặt rời khỏi ruộng, những gốc rạ và lớp rơm còn lại trở thành thứ người dân cần nhanh chóng xử lý để chuẩn bị cho vụ sản xuất tiếp theo. Có nơi rơm được thu gom, nhưng cũng có nơi được vun thành đống rồi châm lửa ngay trên đồng. Khói từ những đám rơm cháy lan theo gió, phủ một lớp mờ trên cánh đồng và các khu dân cư lân cận.
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, mỗi năm các địa phương trên địa bàn thành phố canh tác khoảng 170.000ha lúa, phát sinh gần 830.000 tấn rơm rạ. Chỉ cần một phần lượng phụ phẩm trong số này bị đốt ngoài đồng, khói phát sinh trong những ngày thu hoạch cũng có thể trở thành áp lực đối với môi trường không khí tại các khu vực nông thôn, ven đô.
Khảo sát của phóng viên Tạp chí Môi trường & Cuộc sống cho thấy, thói quen đốt rơm sau thu hoạch trên cả nước nói chung và tại Hà Nội nói riêng, xuất phát từ một nhu cầu rất thực tế: Người dân cần nhanh chóng giải phóng mặt ruộng. Rơm rạ cồng kềnh, thu gom bằng phương pháp thủ công tốn công, trong khi việc vận chuyển ra khỏi đồng đòi hỏi phương tiện và nơi tiếp nhận. Nếu không có đầu ra, đốt thường được xem là cách nhanh nhất để xử lý.
Bà Nguyễn Thị Thanh, một nông dân trên 70 tuổi sống tại xã Phương Quan chia sẻ, thói quen đốt rơm rạ ở ở các vùng nông thôn đã hình thành từ bao đời nay. Bản thân bà đã chứng kiến thói quen này từ ông bà, cha mẹ, rồi kéo dài đến thế hệ mình và cả con cháu. Các nhà trong vùng cũng đều làm vậy, vì không đốt cũng không có chỗ chứa, chưa kể đốt còn để lấy tro bón ruộng...
Một nghiên cứu về giải pháp quản lý và công nghệ xử lý phụ phẩm nông nghiệp tại vùng ven đô Hà Nội ghi nhận sự gia tăng đáng kể của một số chất ô nhiễm tại khu vực đốt rơm rạ. Kết quả quan trắc tại một số xã cho thấy nồng độ SO2 tại thời điểm nghiên cứu ở Hương Ngải và Thượng Cốc lần lượt đạt 354,7 và 375 µg/m³; nghiên cứu đồng thời ghi nhận nồng độ CO2 tăng cao tại các khu vực có hoạt động đốt. Những kết quả này cho thấy khói từ đốt rơm rạ không chỉ gây mùi khó chịu mà còn làm suy giảm chất lượng không khí tại chính khu vực phát sinh.
Dù mang tính thời vụ, nguồn phát thải này có thể tăng mạnh vào các đợt thu hoạch tập trung. Trong khi đó, các hoạt động đốt rác, lá cây, cành cây và phụ phẩm diễn ra rải rác quanh năm, cho thấy ô nhiễm từ hoạt động đốt đang tồn tại dưới nhiều dạng, ở nhiều không gian khác nhau.
Những đốm lửa không theo mùa
Nếu đốt rơm rạ chủ yếu xuất hiện vào những ngày mùa, thì đốt rác, lá cây và phụ phẩm lại là câu chuyện khác. Những đống rác tồn đọng tại khu dân cư, lá cây được gom sau khi cắt tỉa, cành cây hoặc phụ phẩm sản xuất có thể bị đốt bất cứ lúc nào khi người dân không có phương án xử lý phù hợp. Đây là những nguồn phát thải rất khó thống kê đầy đủ. Không có một địa điểm cố định, không diễn ra theo lịch cố định và thời gian cháy thường ngắn. Một đống rác có thể được châm lửa vào cuối buổi chiều, cháy âm ỉ trong đêm rồi tắt trước khi lực lượng chức năng kiểm tra. Một điểm đốt khác có thể xuất hiện ở khu vực cách đó vài kilomet.
Theo thống kê, Hà Nội đang phải xử lý một lượng chất thải sinh hoạt rất lớn. Thành phố hiện phát sinh hơn 8.000 tấn rác sinh hoạt mỗi ngày và dự kiến con số này có thể lên khoảng 13.200 tấn/ngày vào năm 2030. Trong tuần từ ngày 16 đến 23/9/2026, hơn 54.300 tấn chất thải rắn sinh hoạt đã được thu gom, xử lý trên toàn thành phố; trong đó 75,6% được xử lý bằng công nghệ đốt và 24,4% chôn lấp trực tiếp. Những con số này cho thấy, phần lớn rác thải đang từng bước được đưa vào hệ thống quản lý tập trung. Nhưng chỉ cần một phần nhỏ bị bỏ lại tại các điểm tự phát hoặc không được thu gom kịp thời, nguy cơ người dân tự xử lý bằng cách đốt vẫn tồn tại.
Đến đây, chúng ta đã dễ dàng hình dung ra bức tranh toàn cảnh về những ngọn lửa lớn, nhỏ ở ngoại thành Hà Nội. Đó không chỉ còn là câu chuyện của một mùa gặt, hay vài điểm đốt tự phát. Từ rơm rạ, rác sinh hoạt đến lá cây, phụ phẩm, tất cả các nguồn đốt phân tán đang âm thầm bổ sung thêm chất ô nhiễm vào không khí, trong khi không qua bất kỳ quy trình kiểm soát nào.
Số liệu từ Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết, từ ngày 1/1 đến 11/8/2026, số ngày chất lượng không khí ở mức Tốt và Trung bình chiếm 73,28%, nhưng PM2.5 trung bình vẫn ở mức 40,95µg/m³. Trong cơ cấu các nguồn phát thải PM2.5 tại Hà Nội, hoạt động đốt rơm rạ, rác thải và các loại phụ phẩm ngoài trời đóng góp khoảng 12%. Con số đó là minh chứng rõ nét rằng, những hành vi tưởng nhỏ lẻ vẫn có thể tạo thành áp lực đáng kể khi diễn ra trên diện rộng, đúng thời điểm và gặp điều kiện khí tượng bất lợi. Vấn đề này cũng đặt ra một câu hỏi lớn: Vì sao thói quen đốt rơm rạ, đốt rác vẫn tồn tại dai dẳng giữa một đô thị đã có không ít quy định kiểm soát ô nhiễm?
Nhiều năm qua, thành phố đã tuyên truyền, vận động người dân hạn chế, tiến tới chấm dứt các hình thức đốt tự phát, đồng thời khuyến khích thu gom, tái sử dụng và xử lý chất thải, phụ phẩm đúng quy định. Tuy nhiên, những đốm lửa vẫn xuất hiện sau mỗi vụ gặt, tại khu dân cư, ven đường hay những khu vực sản xuất. Điều đó cho thấy, với những thói quen đã hình thành và tồn tại qua nhiều năm tháng, chỉ tuyên truyền và nhắc nhở là chưa đủ. Đằng sau mỗi đám lửa cần được nhìn nhận từ một câu hỏi thực tế hơn: Nếu không đốt, người dân sẽ xử lý những thứ đó bằng cách nào?
Khi chưa có phương án thay thế
Với người trồng lúa, sau mỗi vụ gặt, rơm rạ là lượng phụ phẩm lớn cần xử lý trong thời gian ngắn để kịp làm đất, xuống giống vụ mới. Nếu được thu gom, rơm có thể trở thành nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ, trồng nấm, làm thức ăn chăn nuôi hoặc phục vụ các mục đích tái sử dụng khác. Tuy nhiên, khi chưa có đơn vị thu gom, phương tiện vận chuyển và đầu ra ổn định, đốt vẫn là cách nhanh nhất để giải phóng mặt ruộng.
Một người dân ở thôn Viên Nội, xã Vân Nội, Đông Anh cho biết, gia đình đốt rơm sau thu hoạch để lấy tro bón rau, bởi nếu không có tro, phải mua với chi phí khoảng 50.000 đồng một tải. Tại Thanh Trì, người dân cũng từng sử dụng tro rơm rạ ủ cùng phân hữu cơ để bón cho ruộng rau. Điều đó cho thấy rơm rạ không hoàn toàn bị xem là phế phẩm, nhưng người dân chưa có nhiều lựa chọn xử lý thuận tiện, ít tốn kém.
Khó khăn nằm ở chỗ rơm rạ cồng kềnh, phát sinh tập trung trong vài ngày, trong khi thu gom cần nhân công, máy móc, phương tiện vận chuyển và nơi tập kết. Nếu không có đơn vị tổ chức, từng hộ phải tự xoay xở. Với quy mô sản xuất nhỏ, việc thu gom, vận chuyển vừa tốn công, vừa phát sinh chi phí, trong khi đốt có thể thực hiện ngay trên ruộng. Sự chênh lệch về tính thuận tiện này khiến thói quen đốt rơm rạ khó thay đổi chỉ bằng những lời kêu gọi.
Vì vậy, giải pháp không thể chỉ dừng ở yêu cầu người dân chấm dứt đốt rơm rạ, mà cần trả lời những câu hỏi cụ thể: Ai thu gom, thu gom khi nào, vận chuyển đến đâu, sử dụng vào mục đích gì và ai chi trả chi phí? Khi chưa có phương án khả thi, lúc đó yêu cầu bảo vệ môi trường rất dễ trở thành mệnh lệnh khó thực hiện.
Tìm đường cho rơm rạ – Trách nhiệm thuộc về ai?
Tại xã Quảng Bị, trong vụ thu hoạch năm 2026, địa phương tăng cường giám sát việc đốt rơm rạ, khuyến khích người dân sử dụng chế phẩm sinh học làm phân hữu cơ, thu gom phục vụ chăn nuôi và trồng nấm. Tại xã Nội Bài, người dân được hướng dẫn làm đệm lót sinh học, ủ phân hữu cơ và tái sử dụng phụ phẩm. Những cách làm này cho thấy, muốn chấm dứt tình trạng đốt rơm rạ, yêu cầu không đốt phải đi cùng phương án thay thế khả thi.
Và trách nhiệm trước hết thuộc về chính quyền cơ sở trong việc nắm bắt lượng rơm rạ phát sinh, thời điểm thu hoạch và khả năng thu gom. Thay vì chỉ nhắc nhở hoặc xử phạt khi khói đã phát sinh, địa phương cần kết nối hợp tác xã, tổ dịch vụ và doanh nghiệp để thu gom kịp thời, bố trí nơi tập kết và tìm đầu ra cho phụ phẩm. Muốn thay đổi thói quen, cần xây dựng chuỗi thu gom, vận chuyển và tiêu thụ ổn định, để rơm rạ thực sự trở thành nguồn nguyên liệu thay vì tiếp tục bị đốt thành khói bụi.
Với rác sinh hoạt, Kế hoạch 52/KH-UBND ngày 6/2/2026 của Hà Nội đặt mục tiêu tăng cường thu gom, xử lý chất thải, chấm dứt tình trạng đổ, đốt rác trái quy định và đến năm 2030, toàn bộ chất thải rắn sinh hoạt được vận chuyển đến các khu xử lý tập trung bằng công nghệ phù hợp. Điều này cho thấy, kiểm soát nguồn thải phải gắn với hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý thuận tiện.
Đã đến lúc các cơ quan chức năng cần xác định: Trách nhiệm không thể chỉ đặt lên vai người nông dân. Chính quyền phải là nơi tổ chức, kết nối; hợp tác xã và doanh nghiệp tham gia thu gom, tái sử dụng; cơ quan chuyên môn hướng dẫn kỹ thuật, còn thị trường tạo đầu ra. Khi rơm rạ có nơi tiếp nhận và giá trị sử dụng, không đốt mới trở thành lựa chọn thực tế. Mục tiêu không chỉ là dập tắt những đốm lửa sau mùa gặt, mà còn xây dựng chuỗi thu gom, tái sử dụng hiệu quả, ngăn phụ phẩm biến thành khói bụi gây ô nhiễm không khí.
Muốn chấm dứt tình trạng đốt rơm rạ, Hà Nội cần chuyển trọng tâm từ yêu cầu không đốt sang tổ chức những phương án xử lý thay thế khả thi, phù hợp với điều kiện từng vùng sản xuất.
Trung tâm Khuyến nông Hà Nội đã đưa ra các phương án này có thể giúp tận dụng chất hữu cơ, cải thiện đất và giảm chi phí đầu vào sản xuất. Cụ thể, chính quyền cơ sở cần chủ động xây dựng kế hoạch thu gom theo lịch thời vụ, xác định khu vực phát sinh nhiều rơm rạ, bố trí điểm tập kết và kết nối các hợp tác xã, tổ dịch vụ với đơn vị có nhu cầu sử dụng. Ở những nơi thuận lợi, có thể tổ chức thu gom bằng máy cuộn rơm để cung cấp nguyên liệu cho chăn nuôi, trồng nấm hoặc sản xuất phân hữu cơ. Với những cánh đồng khó thu gom, người dân cần được hướng dẫn xử lý tại ruộng bằng chế phẩm vi sinh kết hợp kỹ thuật canh tác phù hợp, thay vì đốt hoặc vùi rơm rạ thiếu kiểm soát.
Tuy nhiên, giải pháp kỹ thuật chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với tổ chức sản xuất và thị trường tiêu thụ. Phát biểu tại Hội thảo tham vấn về phương pháp đánh giá tiềm năng cơ giới hóa thu gom rơm rạ diện rộng trên địa bàn tỉnh An Giang, TS Katherine Nelson, chuyên gia khoa học của Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) tại Việt Nam cho rằng, cần thay đổi tư duy, xem rơm rạ là nguồn tài nguyên có giá trị thay vì phế phụ phẩm bỏ đi. Khi được thu gom bằng cơ giới và sử dụng hợp lý, rơm rạ có thể trở thành nguyên liệu sản xuất nấm, phân hữu cơ, than sinh học, thức ăn chăn nuôi hoặc năng lượng sinh khối.
Cùng với đó, cần tăng cường giám sát để phát hiện sớm các điểm đốt, nhất là trong những ngày cao điểm thu hoạch và thời điểm có nguy cơ ô nhiễm không khí. Việc ứng dụng ảnh vệ tinh, thiết bị bay không người lái và dữ liệu địa bàn có thể hỗ trợ cơ quan chức năng xác định vị trí, thời gian phát sinh khói, qua đó nâng cao hiệu quả kiểm tra và xử lý vi phạm. Hà Nội hiện đã có những bước triển khai giám sát đốt phụ phẩm nông nghiệp bằng thiết bị bay không người lái, tạo cơ sở để quản lý chủ động hơn thay vì chỉ xử lý khi người dân phản ánh.
Tuy nhiên, theo PGS. TS. Bùi Thị An, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng cho rằng, việc giám sát và xử phạt chỉ là một phần của lời giải cho thói quen đốt rơm rạ tại các vùng nông thôn của Việt Nam.
PGS.TS Bùi Thị An cho rằng, giám sát và xử phạt cần đi đôi với giải pháp thu gom, tái sử dụng rơm rạ khả thi, giảm chi phí cho người dân và tạo động lực thay đổi thói quen sản xuất.
Một đám rơm cháy trên đồng hay một đống rác bị đốt ven đường có thể chỉ để lại khói trong vài giờ, nhưng hàng nghìn điểm đốt nhỏ cộng lại sẽ tạo sức ép lớn lên bầu không khí và sức khỏe cộng đồng. Muốn khói không còn bao phủ đồng ruộng, khu dân cư, cần nhiều hơn những lệnh cấm: đó là những giải pháp thu gom, xử lý đủ thiết thực để người dân không còn phải đốt bỏ những gì vẫn có thể tái sử dụng hoặc xử lý an toàn.
“
Khi rơm rạ được thu gom, tái sử dụng và tạo ra thu nhập, bảo vệ môi trường không còn là yêu cầu tách rời sản xuất mà trở thành lợi ích thiết thực của người dân. Muốn chặn khói từ gốc, không chỉ cần ngăn lửa trên đồng ruộng, mà phải tạo ra những giải pháp thay thế hiệu quả, giúp người dân có thêm lựa chọn kinh tế thay vì đốt bỏ rơm rạ sau mỗi mùa gặt.
PGS.TS Bùi Thị An - Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng
Trước tình trạng đốt rơm rạ, phụ phẩm nông nghiệp và chất thải có nguy cơ phát sinh trong thời điểm thu hoạch lúa vụ mùa, Hà Nội yêu cầu các địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.
Sáng 15/10, lớp bụi mù bao phủ nhiều khu vực nội thành Hà Nội, làm giảm tầm nhìn và khiến các tòa nhà cao tầng chìm trong màn sương trắng đục. Nhiều điểm ghi nhận chỉ số chất lượng không khí ở mức xấu.
Thời gian qua, tại một số tuyến đường, khu dân cư và các khu đất trống trên địa bàn phường Nghi Sơn (Thanh Hóa) xuất hiện tình trạng rác thải sinh hoạt, đất đá thải từ xây dựng tập kết không đúng nơi quy định. Điều này không chỉ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân mà còn làm mất mỹ quan đô thị tại một đô thị ven biển đang trên đà phát triển.
Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, ngày 14/10, Bắc Bộ có nắng vào ban ngày, đêm xuất hiện mưa vài nơi. Trung Bộ tiếp tục có mưa vừa, một số nơi mưa to đến rất to kèm dông; Nam Bộ có mưa rào và dông rải rác, chủ yếu vào chiều tối.
Hiện nay Hà Nội đang tăng tốc đô thị hoá, giải phóng mặt bằng song song thi công trên nhiều tuyến đường khiến dòng phương tiện gia tăng, tạo thêm áp lực lên chất lượng không khí đô thị. Tại những khu vực vừa thi công vừa có mật độ giao thông cao, bụi đất, vật liệu xây dựng và bụi đường có thể trở thành nguồn phát tán bụi vào không khí, khiến cho bầu không khí chung của thành phố đang tích tụ một lượng bụi lớn.
Trong bối cảnh mùa Đông - Xuân thường là giai đoạn ô nhiễm không khí gia tăng, Hà Nội đang từng bước siết nguồn phát thải giao thông thông qua thí điểm Vùng phát thải thấp, chuyển đổi xe buýt xanh, xa xăng sang xe điện, phát triển hạ tầng sạc...
Rác phát sinh tại các không gian công cộng vẫn chủ yếu được bỏ chung, thậm chí nhiều khu vực chưa có điểm thu gom riêng. Ngay cả nơi đã bố trí thùng rác phân loại, các loại rác thải vẫn có thể bị bỏ lẫn hoặc được thu gom chung.
Trước mùa ô nhiễm không khí, Hà Nội cần chặn những nguồn phát thải này từ sớm, song bài toán không chỉ nằm ở việc cấm đốt, mà ở chỗ phải tạo được một con đường khác để rơm rạ, rác và phụ phẩm không trở thành những đám khói trên bầu trời đô thị.
Trước dự báo mùa mưa bão năm 2026 diễn biến phức tạp, các doanh nghiệp viễn thông tại TP. Huế tăng cường kiểm tra hạ tầng, chuẩn bị nguồn điện dự phòng, thiết bị thông tin và lực lượng ứng trực 24/24 giờ, nhằm hạn chế gián đoạn liên lạc khi xảy ra thiên tai.
Trước nguy cơ hạn hán, thiếu nước cục bộ và tình trạng nhiều công trình thủy lợi xuống cấp, tỉnh Lâm Đồng đang triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước, nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước. Trọng tâm là chủ động tích trữ, điều hòa nguồn nước, nâng cấp hạ tầng thủy lợi và tăng cường an toàn đập, hồ chứa, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp.
Hà Nội đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng chỉ tiêu cây xanh đô thị lên hơn 10m²/người, trong bối cảnh diện tích cây xanh bình quân tại khu vực nội đô hiện chỉ đạt khoảng 2–3m²/người.
Sáng 15/10, lớp bụi mù bao phủ nhiều khu vực nội thành Hà Nội, làm giảm tầm nhìn và khiến các tòa nhà cao tầng chìm trong màn sương trắng đục. Nhiều điểm ghi nhận chỉ số chất lượng không khí ở mức xấu.
Ba kịch bản biến đổi khí hậu mới nhất cho Việt Nam vừa được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố xoay quanh vấn đề phát thải, sự thay đổi nhiệt độ, lượng mưa, nắng nóng, rét đậm, rét hại, hạn hán và mực nước biển dâng.
Việt Nam và Lào thống nhất đẩy nhanh các dự án kết nối giao thông, năng lượng, góp phần tăng cường liên kết kinh tế, khai thác tiềm năng hợp tác và tạo động lực phát triển cho khu vực.
TP Hồ Chí Minh dự kiến từng bước hình thành vùng phát thải thấp từ năm 2028, mở rộng phạm vi triển khai vào năm 2030 và hướng tới mục tiêu toàn bộ phương tiện giao thông đường bộ sử dụng năng lượng sạch vào năm 2045.
Kéo dài thời gian phục vụ, miễn hoặc giảm phí dịch vụ, mở cửa tối đa các thiết chế văn hóa (bảo tàng, thư viện, nhà hát, di tích...) là chỉ đạo của Chính phủ nhằm tạo điều kiện để người dân tham gia, thụ hưởng trong Tuần Văn hóa đại đoàn kết dân tộc, đặc biệt vào ngày 24/11/2026.