Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2026 - Bài 9: Từ “đóng cửa” nguồn nước hết sức chịu tải đến quản lý theo từng thông số
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 2026 đã thể hiện rõ định hướng cải cách thủ tục hành chính, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, quản trị môi trường dựa trên dữ liệu, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp và thị trường các-bon. Đây là những định hướng cần thiết để vừa nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, vừa giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.

Khoản 2 Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường 2020 thiết lập một “hàng rào” khá rõ: khi nguồn nước mặt không còn khả năng chịu tải, dự án đầu tư mới về nguyên tắc không được xả nước thải trực tiếp vào nguồn nước đó, trừ một số trường hợp luật định.
Dự thảo sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường 2026 đang thay đổi cách tiếp cận khi cho phép xem xét việc xả thải trong trường hợp nguồn nước vẫn còn khả năng chịu tải đối với một hoặc một số thông số bắt buộc đánh giá. Đây không chỉ là thay đổi kỹ thuật, mà là sự dịch chuyển từ cơ chế tiền kiểm tương đối cứng sang quản lý dựa trên tải lượng và rủi ro.
Từ một “barie” pháp lý
Khoản 2 Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường 2020, quy định như sau:
Nguồn thải vào môi trường nước mặt phải được quản lý phù hợp với mục đích sử dụng và khả năng chịu tải của môi trường nước mặt. Không phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cấp giấy phép môi trường cho dự án đầu tư mới có hoạt động xả nước thải trực tiếp vào môi trường nước mặt không còn khả năng chịu tải theo công bố của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp chủ dự án đầu tư có phương án xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường về chất lượng nước mặt trước khi thải vào môi trường tiếp nhận hoặc có phương án tuần hoàn, tái sử dụng để không làm phát sinh thêm nước thải hoặc trường hợp dự án đầu tư xử lý ô nhiễm, cải tạo, phục hồi, cải thiện chất lượng môi trường khu vực bị ô nhiễm.
Quan trọng hơn, luật quy định không phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cấp giấy phép môi trường cho dự án đầu tư mới có hoạt động xả nước thải trực tiếp vào nguồn nước mặt không còn khả năng chịu tải.
Như vậy, Luật Bảo vệ môi trường 2020 đặt khả năng chịu tải vào vị trí như một điều kiện pháp lý để quyết định có cho phép nguồn thải mới gia nhập nguồn nước hay không.
Cơ chế này có tính phòng ngừa cao. Khi nguồn nước đã được xác định không còn khả năng tiếp nhận thêm tải lượng ô nhiễm, “cánh cửa” đối với dự án mới được đóng lại. Chỉ những trường hợp đặc biệt như xử lý nước thải đạt quy chuẩn trước khi xả, tuần hoàn - tái sử dụng để không phát sinh thêm nước thải hoặc dự án nhằm xử lý, cải tạo, phục hồi môi trường mới được đặt trong diện ngoại lệ.
Điểm đáng chú ý là một dự án có nước thải đạt quy chuẩn vẫn không mặc nhiên được phép xả nếu nguồn tiếp nhận đã hết khả năng chịu tải. Luật vì thế không chỉ kiểm soát “đầu ra” của nguồn thải mà còn kiểm soát “sức chứa” của nguồn tiếp nhận.
Dự thảo Luật bảo vệ môi trường 2026 thay đổi ở chính điểm này.
Dự thảo sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường 2026 sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường 2020 như sau:
Nguồn thải vào môi trường nước mặt phải được quản lý phù hợp với mục đích sử dụng, chức năng nguồn nước và khả năng chịu tải của môi trường nước mặt. Đối với môi trường nước mặt không còn khả năng chịu tải đối với tất cả các thông số bắt buộc đánh giá theo công bố của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, không cấp giấy phép môi trường, không tiếp nhận đăng ký môi trường đối với các dự án đầu tư mới có xả nước thải trực tiếp vào nguồn nước đó, trừ trường hợp chủ dự án đầu tư có phương án xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường về chất lượng nước mặt trước khi thải vào môi trường tiếp nhận hoặc có phương án tuần hoàn, tái sử dụng để không làm phát sinh thêm nước thải hoặc trường hợp dự án đầu tư xử lý ô nhiễm, cải tạo, phục hồi, cải thiện chất lượng môi trường khu vực ô nhiễm.
Theo đó, Dự thảo sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường 2026 không loại bỏ nguyên tắc quản lý theo khả năng chịu tải, mà thay đổi cách xác định và áp dụng kết quả đánh giá.

Theo dự thảo, Chính phủ sẽ quy định chi tiết việc xả nước thải trực tiếp vào môi trường nước mặt trong trường hợp môi trường nước mặt vẫn còn khả năng chịu tải đối với một hoặc một số thông số bắt buộc đánh giá theo công bố của cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan soạn thảo cho biết hướng sửa đổi nhằm tạo sự linh hoạt cho hoạt động đầu tư, phù hợp với cách tiếp cận quản lý rủi ro có kiểm soát.
Theo các chuyên gia, đây là thay đổi quan trọng về logic pháp lý. Luật 2020 đặt câu hỏi: Nguồn nước còn hay hết khả năng chịu tải? Dự thảo 2026 đặt câu hỏi chi tiết hơn: Nguồn nước còn khả năng chịu tải đối với thông số nào và nguồn thải mới tác động đến thông số nào?
Từ đó, trạng thái “hết khả năng chịu tải” không còn nhất thiết được nhìn như một tình trạng đóng cửa tuyệt đối đối với mọi nguồn thải mới. Việc xem xét có thể được phân tích theo từng thông số ô nhiễm.
"Chiếc cầu" giữa hai cách tiếp cận
Đáng chú ý, cách tiếp cận theo từng thông số không phải đến Dự thảo 2026 mới xuất hiện mà đã được nhắc đến tại Thông tư 95/2025/TT-BNNMT có hiệu lực từ ngày 15/2/2026, cho thấy cách tiếp cận kỹ thuật lên một tầng pháp lý cao hơn và gắn nó trực tiếp với quyết định quản lý nguồn thải.
Điều 3 Thông tư 95/2025/TT-BNNMT: Nguyên tắc đánh giá khả năng chịu tải của sông, hồ
1. Việc đánh giá khả năng chịu tải của sông, hồ phải đảm báo tính hệ thống theo lưu vực sông và nguồn nước.
2. Đối với sông, hồ, khi thực hiện đánh giá khả năng chịu tải, phải được phân thành từng đoạn sông để đánh giá.
3. Việc phân đoạn sông, xác định mục đích sử dụng nước, lựa chọn lưu lượng dòng chảy, lựa chọn thông số chất lượng nước mặt, thông số ô nhiễm của các nguồn nước thải để đánh giá khả năng chịu tải đối với từng đoạn sông phải bảo đảm tính hệ thống theo từng sông, hệ thống sông.
4. Việc đánh giá khả năng chịu tải của sông, hồ phải được thực hiện đối với từng thông số ô nhiễm.
5. Việc đánh giá khả năng chịu tải của sông, hồ dựa trên đặc điểm mục đích sử dụng nước, khả năng tự làm sạch của nguồn nước, quy mô và tính chất của các nguồn nước thải hiện tại và theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
6. Việc đánh giá khả năng chịu tải của sông, hồ được thực hiện theo thời kỳ của kế hoạch quản lý chất lượng nước mặt theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường hoặc do cơ quan có thẩm quyền công bố khả năng chịu tải theo quy định tại Khoản 1 Điều 15 Thông tư này xem xét, quyết định khi thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Có sự điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến hoạt động xả nước thải vào nguồn nước
b) Có dự án, công trình khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước mà làm thay đổi lớn đến chế độ dòng chảy, chất lượng nước sông, hồ
c) Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền công bố khả năng chịu tải theo quy định tại Khoản 1 Điều 15 Thông tư này.
Thông tư cũng quy định các phương pháp đánh giá dựa trên giới hạn tối đa của từng thông số, chất lượng nước hiện trạng, lưu lượng và các nguồn nước thải; trong trường hợp đánh giá bằng mô hình còn tính đến quá trình gia nhập dòng chảy và biến đổi các chất gây ô nhiễm.
Không dừng ở nguyên tắc, Điều 7 Thông tư 95/2025/TT-BNNMT còn quy định các thông số phải đánh giá gồm COD, BOD5, tổng Nitơ, tổng Phốtpho và các thông số khác được cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định căn cứ quy chuẩn, mục đích sử dụng nước, mục tiêu chất lượng nước, quy mô và tính chất nước thải, yêu cầu bảo vệ nguồn nước và môi trường.

Như vậy, có thể thấy một sự liên kết rất rõ: Luật 2020 xác lập nguyên tắc quản lý theo khả năng chịu tải → Thông tư 95/2025 lượng hóa khả năng chịu tải theo từng thông số → Dự thảo 2026 đưa cách tiếp cận đó vào chính cơ chế quyết định việc tiếp nhận nguồn thải mới.
Nói cách khác, Dự thảo đang chuyển khả năng chịu tải từ một “điều kiện cấm” thành một “công cụ phân bổ dư địa ô nhiễm”.
Nhưng “còn chịu tải” không có nghĩa là “con sông còn khỏe”. Đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý.
Theo bà Trần Thị Minh Hà - Nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế Bộ Nông nghiệp và Môi trường - Ủy viên BTV, Trưởng Ban đối ngoại, Hội Nước và Môi trường Việt Nam, về xả nước thải vào nguồn nước hết khả năng chịu tải được đề cập tại khoản 2 Điều 7 quy định đối với nguồn nước mặt không còn khả năng chịu tải, dự án mới/mở rộng không được xả nước thải trực tiếp, trừ trường hợp xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường về chất lượng nước mặt trước khi xả thì nội dung quy định chưa phù hợp vì nếu nguồn nước đã hết khả năng chịu tải, việc tiếp tục cho phép xả thải (dù đạt chất lượng nước mặt) vẫn bổ sung thêm tổng lưu lượng xả vào nguồn tiếp nhận, có nguy cơ làm gia tăng tải lượng ô nhiễm tổng thể, vượt khả năng chịu tải.
Bên cạnh đó, cần xem xét quy định này để bảo đảm tương thích với nguyên tắc quản lý của Luật Tài nguyên nước. Thay vì bắt buộc nước thải đạt "quy chuẩn chất lượng nước mặt", nên áp dụng cơ chế bắt buộc tuần hoàn/tái sử dụng 100% nước thải đối với các dự án mới tại khu vực nguồn nước bị ô nhiễm nặng, không còn khả năng chịu tải nếu muốn triển khai dự án.
Việc đánh giá theo từng thông số giúp quyết định quản lý chính xác hơn, nhưng không nên dẫn đến cách hiểu rằng chỉ cần một hoặc một số thông số còn dư địa thì nguồn nước có thể tiếp nhận thêm nguồn thải mà không cần xem xét tổng thể.
Một dòng sông có thể đồng thời chịu áp lực về chất hữu cơ, dinh dưỡng, chất rắn lơ lửng, kim loại, vi sinh... Các tác động này diễn ra trong cùng một hệ sinh thái và chịu ảnh hưởng của dòng chảy, khả năng tự làm sạch, mục đích sử dụng nước và các nguồn thải khác.
Vì vậy, điều quan trọng không phải chỉ là “thông số nào còn dư địa”, mà là tổng tải lượng của tất cả các nguồn thải đang và sẽ đưa vào đoạn sông có còn nằm trong giới hạn an toàn hay không.
Nếu không kiểm soát được vấn đề này, có thể xuất hiện nghịch lý: từng dự án riêng lẻ đều được xem xét dựa trên phần khả năng chịu tải còn lại, nhưng tổng tải lượng của cả đoạn sông vẫn liên tục tăng.
Đây chính là ranh giới giữa quản lý theo từng thông số và quản trị chất lượng của cả nguồn nước. Vì vậy, linh hoạt phải đi cùng hậu kiểm.

Khoản 2 Điều 7 trong Dự thảo 2026, nếu được thông qua theo hướng này, sẽ làm tăng vai trò của dữ liệu và hậu kiểm.
Khi Luật 2020 sử dụng một “barie” khá cứng — nguồn nước hết khả năng chịu tải thì hạn chế nguồn thải mới — thì cơ chế mới giống một “bộ lọc”: xem xét thông số, tải lượng và khả năng tiếp nhận cụ thể.
Nhưng một “bộ lọc” chỉ hoạt động tốt nếu dữ liệu phía sau nó chính xác và được cập nhật.
Cơ quan quản lý phải biết nguồn nước hiện có tải lượng bao nhiêu, còn khả năng tiếp nhận bao nhiêu, nguồn thải mới bổ sung bao nhiêu và sau khi bổ sung thì chất lượng nước có còn đáp ứng mục tiêu hay không.
Đặc biệt, khi điều kiện dòng chảy hoặc nguồn thải thay đổi, kết quả đánh giá cũng cần được cập nhật. Nếu không, sự linh hoạt trong cấp phép có thể trở thành điểm yếu trong bảo vệ nguồn nước.
Không nên hiểu đây đơn thuần là “nới” hay “siết”
Theo TS. Trịnh Xuân Đức – Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Hạ tầng và Môi trường, khoản 5 Điều 1 Dự thảo Luật, sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, quy định nguồn thải phải phù hợp với mục đích sử dụng, chức năng nguồn nước và khả năng chịu tải; đồng thời quy định không được xả trực tiếp khi môi trường nước mặt “không còn khả năng chịu tải đối với tất cả các thông số bắt buộc đánh giá”, trừ các trường hợp được liệt kê.
“Ngưỡng “không còn khả năng chịu tải đối với tất cả các thông số” có thể dẫn đến cách hiểu rằng nguồn nước đã hết khả năng chịu tải đối với một hoặc một số thông số vẫn có thể tiếp nhận thêm tải lượng của chính các thông số đó. Quản lý khả năng chịu tải cần được thực hiện theo từng thông số ô nhiễm, trên cơ sở lưu lượng, nồng độ, tải lượng, điều kiện thủy văn bất lợi, tải lượng tích lũy và hệ số an toàn. Đây là điều kiện cần thiết để tránh hợp thức hóa việc gia tăng ô nhiễm tại nguồn nước đã suy giảm chất lượng”, ông Đức nhận xét.
Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Hạ tầng và Môi trường đề xuất chỉnh lý khoản 2 Điều 7 theo hướng: “Nguồn thải vào môi trường nước mặt phải được kiểm soát theo lưu lượng, nồng độ và tải lượng chất ô nhiễm, phù hợp với chức năng, mục đích sử dụng và khả năng chịu tải của nguồn nước; không được làm suy giảm chất lượng nguồn nước hoặc làm gia tăng tải lượng đối với thông số môi trường mà nguồn nước không còn khả năng chịu tải. Việc xác định khả năng chịu tải phải xem xét điều kiện thủy văn bất lợi, đặc biệt là mùa kiệt, tải lượng tích lũy, các nguồn thải đã được chấp thuận hoặc cấp phép và hệ số an toàn môi trường. Chính phủ quy định chi tiết khoản này”.

So sánh khoản 2 Điều 7 cho thấy bản chất của sửa đổi không nằm ở việc "nới lỏng" hay "siết chặt" điều kiện xả thải, mà ở sự thay đổi phương thức quản lý.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 thiên về phòng ngừa bằng một giới hạn pháp lý rõ ràng: Nguồn nước hết khả năng chịu tải thì về nguyên tắc không tiếp nhận thêm nguồn thải mới. Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường năm 2026 hướng tới quản lý linh hoạt theo tải lượng và từng thông số: nguồn nước không nhất thiết bị “đóng cửa” hoàn toàn nếu vẫn còn khả năng chịu tải đối với những thông số phù hợp với nguồn thải được xem xét.
Cách tiếp cận mới có thể tạo dư địa cho phát triển mà không nhất thiết phải đánh đổi môi trường. Nhưng điều kiện tiên quyết là phải kiểm soát được tổng tải lượng của nguồn nước, chứ không chỉ khả năng chịu tải của từng dự án.
Bởi vậy, câu hỏi quan trọng nhất đối với khoản 2 Điều 7 trong lần sửa luật này không phải là “có cho phép xả thải linh hoạt hơn không?”, mà là: Khi cánh cửa không còn đóng hoàn toàn theo trạng thái “hết khả năng chịu tải”, Việt Nam sẽ dùng công cụ nào để bảo đảm tổng tải lượng của cả dòng sông không vượt quá sức chịu đựng của hệ sinh thái?
Đây mới là phép thử thực sự của tư duy quản lý rủi ro có kiểm soát trong Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2026.
Ba kiến nghị của Hội Nước và Môi trường Việt Nam về bảo vệ môi trường nước mặt và khả năng chịu tải (khoản 2 Điều 7 Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2026)
- Bổ sung nguyên tắc: “Việc đánh giá khả năng chịu tải của môi trường nước mặt được thực hiện theo lưu vực, tiểu lưu vực, có xét chế độ dòng chảy theo mùa và dòng chảy tối thiểu theo pháp luật về tài nguyên nước.”
- Đối với nguồn nước không còn khả năng chịu tải, dự án mới hoặc mở rộng phải ưu tiên tuần hoàn, tái sử dụng nước thải, tiến tới không xả thải. Chỉ xem xét trường hợp ngoại lệ khi chứng minh không làm tăng tải lượng ô nhiễm, có bù trừ hoặc giảm tải tương ứng và được kiểm soát chặt chẽ.
- Quy định rõ thẩm quyền công bố, nguồn dữ liệu, phương pháp, chu kỳ cập nhật tối thiểu 05 năm hoặc khi có biến động lớn về nguồn nước, nguồn thải.
* Ảnh minh họa do AI thiết kế




