Nghệ An tăng tốc bước vào thị trường các-bon rừng
Nghệ An đang chủ động chuẩn bị về chính sách, kỹ thuật và nguồn lực để khai thác tiềm năng lớn từ hơn 1 triệu héc-ta rừng, mở ra hướng đi mới trong phát triển kinh tế lâm nghiệp gắn với thị trường các-bon.
Đầu tư nền tảng kỹ thuật cho thị trường các-bon
Để đủ điều kiện tham gia thị trường này, yêu cầu quan trọng nhất là hệ thống MRV (giám sát, đo đạc, báo cáo, thẩm định) phải chính xác và minh bạch. Nghệ An vì vậy đang đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý rừng: ứng dụng ảnh vệ tinh theo dõi diễn biến rừng, xây dựng cơ sở dữ liệu lâm nghiệp thống nhất đến từng xã, triển khai phần mềm quản lý hiện đại, tăng cường giao khoán rừng tự nhiên cho cộng đồng quản lý nhằm giữ ổn định độ che phủ và hạn chế xâm lấn.
Tỉnh cũng tập trung phát triển rừng trồng đạt chuẩn FSC. Diện tích đạt chứng chỉ tăng nhanh không chỉ tạo lợi thế cạnh tranh về “gỗ sạch” mà còn mở cánh cửa tiếp cận thị trường tín chỉ các-bon tự nguyện theo các tiêu chuẩn quốc tế như VCS hay Gold Standard, lĩnh vực đang được các doanh nghiệp toàn cầu quan tâm.

Nghệ An đang chọn một số khu vực rừng có tiềm năng tăng trưởng sinh khối lớn, đặc biệt là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, để triển khai các dự án thí điểm. Song song, tỉnh hoàn thiện cơ chế phân chia lợi ích để đảm bảo người trực tiếp giữ rừng được hưởng phần thu nhập tương xứng từ tín chỉ các-bon.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An, hiện nay nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đã làm việc với tỉnh để tìm hiểu cơ hội triển khai dự án các-bon rừng. Điều này mang lại thêm nguồn lực kỹ thuật, tài chính và kinh nghiệm quốc tế, giúp các dự án của Nghệ An tiệm cận các chuẩn chất lượng cao.
Nguồn thu mới cải thiện sinh kế miền núi
Việc bán tín chỉ các-bon kỳ vọng trở thành động lực kinh tế mới cho người dân miền núi. Hiện thu nhập chủ yếu đến từ bảo vệ rừng hoặc khai thác lâm sản ngoài gỗ, vốn không ổn định.

Tháng 9 vừa qua, 19 cộng đồng thuộc hai xã Mường Lống và Huồi Tụ đã được phê duyệt hưởng lợi từ nguồn thu của Thỏa thuận giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) trong năm 2025.
UBND tỉnh cũng điều chỉnh mức khoán bảo vệ rừng từ nguồn ERPA, nâng từ 500.000 lên 800.000 đồng/ha/năm theo Quyết định 42/2025/QĐ-UBND. Việc tăng mức chi trả giúp người dân có thêm động lực gắn bó với rừng, đồng thời giảm áp lực cho lực lượng chuyên trách trong công tác tuần tra, bảo vệ và phòng chống vi phạm lâm luật.
Dù tiềm năng rất lớn, thị trường các-bon vẫn đặt ra không ít khó khăn: chi phí đo đạc, chứng nhận cao, yêu cầu kỹ thuật phức tạp, trong khi khung pháp lý ở Việt Nam vẫn đang hoàn thiện. Tuy nhiên, đây chủ yếu là rào cản kỹ thuật và hoàn toàn có thể vượt qua nếu tỉnh có lộ trình rõ ràng, tận dụng tốt hỗ trợ quốc tế và từng bước tiếp cận chuẩn mực toàn cầu.




