Phục hồi hệ sinh thái đất ngập nước
Đề án phục hồi và tăng cường quản lý các vùng đất ngập nước quan trọng giai đoạn 2026 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu bảo tồn, sử dụng bền vững 100% các vùng đất ngập nước quan trọng và các khu Ramsar; đồng thời từng bước phục hồi những hệ sinh thái bị suy thoái, kiểm soát các nguồn tác động và ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong quản lý.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa phê duyệt Đề án phục hồi và tăng cường quản lý các vùng đất ngập nước quan trọng giai đoạn 2026–2035, tầm nhìn đến năm 2050. Đây được xem là bước đi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững các hệ sinh thái đất ngập nước, gắn bảo tồn thiên nhiên với phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Bảo tồn toàn diện các vùng đất ngập nước quan trọng
Theo Đề án, một trong những mục tiêu trọng tâm trong giai đoạn 2026 - 2035 là xác định đầy đủ danh mục các vùng đất ngập nước quan trọng trên phạm vi cả nước, đồng thời rà soát, cập nhật và điều chỉnh danh mục hiện có phù hợp với thực tiễn quản lý và quy định pháp luật.

Đáng chú ý, Đề án đặt mục tiêu 100% vùng đất ngập nước quan trọng được bảo tồn, sử dụng bền vững và duy trì các tiêu chí xác lập. Đối với hệ thống khu Ramsar của Việt Nam, mục tiêu cũng được xác định rõ: 100% các khu Ramsar được bảo tồn, sử dụng bền vững và duy trì các tiêu chí theo quy định của Công ước Ramsar.
Cùng với bảo tồn, công tác quản lý nhà nước tại các vùng đất ngập nước sẽ được tăng cường. Các hành vi vi phạm pháp luật phải được phát hiện và xử lý kịp thời; số vụ vi phạm được kỳ vọng giảm dần qua từng năm. Năng lực kiểm tra, giám sát, thực thi pháp luật, điều tra và quan trắc môi trường tại các khu vực này cũng sẽ được nâng cao.
Việc quản lý đất ngập nước không chỉ nhằm bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên mà còn hướng tới duy trì những giá trị kinh tế, sinh thái, cảnh quan, văn hóa và sinh kế mà các vùng đất ngập nước mang lại cho cộng đồng.
Khoanh vùng suy thoái, phục hồi hệ sinh thái
Bên cạnh bảo vệ những hệ sinh thái còn nguyên giá trị, Đề án dành sự quan tâm đáng kể cho các vùng đất ngập nước đã và đang bị suy thoái.
Theo đó, cơ quan chức năng sẽ tổ chức điều tra, đánh giá và xác định mức độ suy thoái, nguyên nhân cũng như khả năng phục hồi của từng khu vực. Trên cơ sở đánh giá cụ thể, các địa phương sẽ xây dựng kế hoạch, phương án và lộ trình phục hồi phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và khả năng nguồn lực.
Cách tiếp cận này cho thấy yêu cầu chuyển từ tư duy “bảo vệ những gì còn lại” sang chủ động phục hồi những hệ sinh thái đã bị tổn thương.
Trong quá trình phục hồi, các giá trị văn hóa truyền thống, tri thức bản địa và tập quán sản xuất, canh tác gắn với vùng đất ngập nước cũng được yêu cầu nhận diện và bảo tồn. Đây là yếu tố có ý nghĩa quan trọng, bởi nhiều vùng đất ngập nước ở Việt Nam không chỉ là không gian sinh thái mà còn gắn chặt với đời sống, sinh kế và văn hóa của cộng đồng dân cư.
Về mặt kỹ thuật, các giải pháp phục hồi sẽ tập trung vào những loài đặc trưng, loài chỉ thị; từng bước khôi phục cấu trúc, chức năng và các giá trị sinh thái đặc thù của từng vùng. Hiệu quả phục hồi sẽ được theo dõi, đánh giá để kịp thời điều chỉnh giải pháp và nhân rộng những mô hình có hiệu quả.
Một nhiệm vụ khác được đặt ra là xác định những vùng đất ngập nước có tiềm năng để đề cử công nhận là khu Ramsar, xây dựng hồ sơ và tổ chức đề cử theo quy định.
Việc mở rộng và nâng cao chất lượng mạng lưới Ramsar được kỳ vọng góp phần tăng cường bảo vệ những vùng đất ngập nước có giá trị đặc biệt, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trong thực hiện các cam kết quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học và đất ngập nước.
Đề án cũng định hướng vận hành mạng lưới các khu Ramsar tại Việt Nam theo hướng tăng cường kết nối, trao đổi và chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, sáng kiến giữa các khu. Qua đó, những mô hình quản lý hiệu quả có thể được nghiên cứu, áp dụng và nhân rộng.
Một điểm đáng chú ý của Đề án là không chỉ tập trung xử lý hậu quả mà hướng tới kiểm soát từ sớm các nguy cơ gây suy thoái đất ngập nước.
Theo đó, các vùng đất ngập nước quan trọng sẽ được tăng cường quan trắc, giám sát theo quy định. Những tác động từ các dự án đầu tư, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khai thác thủy sản, khoáng sản và phát triển du lịch có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái hoặc làm thay đổi đặc tính sinh thái của vùng đất ngập nước sẽ được kiểm soát chặt chẽ.
Các ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến hệ sinh thái đất ngập nước cũng phải được xem xét trong quá trình xây dựng và triển khai quy hoạch, chương trình, dự án phát triển.
Đây là yêu cầu có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh nhiều vùng đất ngập nước đang chịu sức ép ngày càng lớn từ đô thị hóa, phát triển hạ tầng, sản xuất nông nghiệp, khai thác tài nguyên, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu.
Bên cạnh đó, việc kiểm soát các loài ngoại lai xâm hại tại các khu Ramsar, khu bảo tồn đất ngập nước và cập nhật đầy đủ thông tin vào cơ sở dữ liệu quốc gia về đa dạng sinh học cũng được xác định là một trong những nhiệm vụ cần ưu tiên.
Để nâng cao hiệu quả quản lý, Đề án đặc biệt nhấn mạnh việc ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo.
Công nghệ sẽ được khai thác để tăng cường giám sát diễn biến các vùng đất ngập nước, phát hiện sớm những khu vực có nguy cơ suy thoái, hỗ trợ điều tra, đánh giá hiện trạng và phục hồi hệ sinh thái.
Việc xây dựng, cập nhật và khai thác cơ sở dữ liệu cũng sẽ góp phần tạo nền tảng cho quản lý dựa trên dữ liệu, thay vì chỉ dựa vào các hoạt động kiểm tra, khảo sát thủ công.
Trong dài hạn, việc kết hợp dữ liệu quan trắc, dữ liệu đa dạng sinh học, công nghệ viễn thám, bản đồ số và trí tuệ nhân tạo có thể mở ra phương thức mới trong theo dõi biến động đất ngập nước, cảnh báo nguy cơ và hỗ trợ cơ quan quản lý đưa ra quyết định.
Hướng tới sử dụng bền vững các “lá chắn” sinh thái
Đất ngập nước được xem là một trong những hệ sinh thái có vai trò quan trọng đối với cân bằng sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, điều tiết nguồn nước và giảm thiểu tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu.
Vì vậy, mục tiêu bảo tồn 100% các vùng đất ngập nước quan trọng không chỉ mang ý nghĩa bảo vệ thiên nhiên mà còn góp phần duy trì các dịch vụ hệ sinh thái phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Đề án giai đoạn 2026–2035, tầm nhìn đến năm 2050 đặt ra yêu cầu quản lý theo hướng tổng thể hơn: bảo vệ những vùng còn nguyên giá trị, phục hồi những hệ sinh thái đã suy thoái, kiểm soát các nguồn gây tác động và khai thác hợp lý các giá trị của đất ngập nước.
Nếu được triển khai đồng bộ, gắn trách nhiệm của các cấp, ngành với sự tham gia của cộng đồng và ứng dụng hiệu quả khoa học công nghệ, đây sẽ là cơ sở quan trọng để Việt Nam từng bước hình thành mạng lưới các vùng đất ngập nước được quản lý hiệu quả, bảo tồn đa dạng sinh học và phát huy bền vững các giá trị sinh thái, kinh tế và văn hóa trong những thập niên tới.
.jpg)



