Sửa Luật Bảo vệ môi trường: Các đại biểu góp ý các giải pháp về phân loại rác tại nguồn
Tại phiên thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, các đại biểu đã đưa ra nhiều góp ý sâu sắc nhằm khắc phục bất cập trong phân loại chất thải sinh hoạt, làm rõ trách nhiệm quản lý và nâng cao tính khả thi của chính sách khi đi vào cuộc sống.
Chiều 28/9, tại Nhà Quốc hội, dưới sự chủ trì của Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục tổ chức Hội nghị đại biểu Quốc hội (ĐBQH) hoạt động chuyên trách lần thứ Nhất, nhiệm kỳ khoá XVI. Tại phiên thảo luận, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
Phân loại rác tại nguồn không chỉ riêng người dân
Đặc biệt quan tâm đến vấn đề phân loại chất thải sinh hoạt tại nguồn, đại biểu Đặng Ngọc Huy - Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ngãi cho rằng, dù quy định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn đã đến mốc triển khai nhưng thực tế tại nhiều địa phương rác đã phân loại vẫn bị đổ chung lên xe thu gom, gây lãng phí công sức và suy giảm niềm tin của người dân.

Từ đó, đại biểu Đặng Ngọc Huy góp ý 5 nhóm giải pháp trọng tâm, gồm:
Một là, cần chuyển sang trách nhiệm chuỗi. Đại biểu nhấn mạnh, phân loại tại nguồn chỉ là “mắt xích” đầu tiên trong chuỗi thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý. Tại Điều 75 và các điều liên quan cần quy định rõ nghĩa vụ phân loại của người dân phải gắn liền với trách nhiệm tiếp nhận, vận chuyển, xử lý tương ứng.
Hai là, phân cấp phải gắn liền với trách nhiệm giải trình. Đại biểu đồng tình với việc giao UBND cấp tỉnh quyết định lộ trình, nhưng Chính phủ cần ban hành khung tiêu chí tối thiểu và thời hạn. Địa phương phải công khai lộ trình, phương thức, tiến độ và giải trình công khai nếu chưa thực hiện đúng kế hoạch.
Ba là, cần phân định rõ trách nhiệm hai chiều giữa người dân và đơn vị thu gom. Đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 77 nguyên tắc: cơ sở thu gom vận chuyển có trách nhiệm duy trì sự phân loại, không được trộn lẫn các dòng chất thải đã phân loại, trừ trường hợp công nghệ xử lý cho phép và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận, đồng thời có quy định về kiểm tra, giám sát và xử lý đơn vị vi phạm.
Bốn là, cần gắn phân loại với cơ chế giá. Theo đại biểu, cần áp dụng nguyên tắc "thải nhiều trả nhiều, phân loại tốt giảm chi phí" tại Điều 79, dựa trên khối lượng, tính chất rác và mức độ phân loại, nhưng phải đơn giản, minh bạch để dễ áp dụng.
Năm là, đại biểu kiến nghị kết nối quy định sản phẩm tái chế (Điều 72a) với khâu phân loại, thu gom (Điều 75, 77, 78, 79) thành một chuỗi chính sách thống nhất; xác định rõ đầu ra cho từng loại chất thải (nhất là rác thực phẩm) và đo lường hiệu quả bằng tỷ lệ chất thải thực tế được tái chế, giảm chôn lấp.
Cùng quan điểm với đại biểu Đặng Ngọc Huy, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa Đàng Thị Mỹ Hương cũng bày tỏ tán thành với việc giao UBND cấp tỉnh quyết định phương thức phân loại chi tiết để phù hợp với điều kiện dân cư và hạ tầng địa phương. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, việc cho phép từng địa phương tự quyết định có thể dẫn đến sự khác biệt quá lớn về cách thức phân loại, bao bì hay quy trình lưu giữ, gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp hoạt động trên nhiều địa bàn hoặc khu vực giáp ranh.
Do đó, cần ban hành khung tiêu chí kỹ thuật và yêu cầu tối thiểu thống nhất trên toàn quốc, làm cơ sở để các tỉnh tổ chức thực hiện, kết hợp với các chính sách hỗ trợ người dân chuyển từ thói quen sang nghĩa vụ pháp lý.
Bày tỏ thống nhất với các đại biểu về vấn đề này, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Lạng Sơn Nguyễn Đặng Ân đề nghị cần làm rõ mối quan hệ giữa phân loại tại nguồn với năng lực thu gom, vận chuyển và xử lý sau phân loại. Việc phân loại rác do địa phương lựa chọn phải tương thích chặt chẽ với hạ tầng và công nghệ xử lý hiện có nhằm tăng cường tái chế, tái sử dụng và giảm tỷ lệ chôn lấp.
Đối với quy định tại Điều 78 về xử lý chất thải rắn, đại biểu Nguyễn Đặng Ân cho rằng, các chính sách ưu đãi chung chưa thể giải quyết bài toán thu hút đầu tư cho các dự án môi trường cấp thiết tại miền núi do khả năng thu hồi vốn thấp. Do đó, đại biểu đề xuất đối với các tỉnh miền núi chưa có cơ sở xử lý đạt chuẩn và khó thu hút nhà đầu tư, Nhà nước cần ưu tiên hỗ trợ đầu tư hoặc trực tiếp đầu tư bằng ngân sách. Đồng thời, Luật cần khuyến khích đầu tư cơ sở xử lý rác thải theo mô hình liên địa phương, liên vùng phù hợp với điều kiện thực tế, đi kèm cơ chế kết hợp linh hoạt giữa ngân sách trung ương, ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác.
Cụ thể hóa trách nhiệm của người đứng đầu về tình trạng ô nhiễm
Một nội dung được các đại biểu quan tâm cho ý kiến đó là vấn đề trách nhiệm về tình trạng ô nhiễm môi trường. Dự thảo Luật hiện bổ sung quy định Chủ tịch UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm về tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn. Tuy nhiên, các ý kiến cho rằng quy định này cần được làm rõ phạm vi và căn cứ đánh giá để bảo đảm tính khả thi.

Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình Phạm Hùng Thắng chỉ ra rằng, nhiều trường hợp ô nhiễm mang tính liên tỉnh, liên vùng hoặc do nguồn xả thải thuộc thẩm quyền trung ương quản lý, vượt quá khả năng xử lý trực tiếp của địa phương. Do đó, Luật cần quy định rõ phạm vi trách nhiệm thuộc thẩm quyền địa phương, hoặc bổ sung tiêu chí phân định rõ trách nhiệm giữa địa phương với Trung ương và cơ chế phối hợp liên ngành, liên tỉnh.
Về vấn đề này, đại biểu Đàng Thị Mỹ Hương - Đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa cũng đề xuất cần làm rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, trách nhiệm liên đới và bảo đảm nguồn lực (ngân sách, hạ tầng quan trắc, năng lực kiểm tra) cho địa phương.
Ngoài ra, đại biểu Phạm Hùng Thắng đề nghị, cần luật hóa tỷ lệ chi tối thiểu cho bảo vệ môi trường. Đại biểu cho rằng, quy định "bố trí khoản chi riêng cho bảo vệ môi trường với tỷ lệ tăng dần…" tại Điều 5 hiện vẫn mang tính định hướng, chưa thể hiện rõ quyết tâm ưu tiên nguồn lực. Do đó, cần cụ thể hóa chủ trương tại Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương bằng cách quy định rõ tỷ lệ chi tối thiểu cho bảo vệ môi trường trong tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm ngay trong Luật, tương tự như lĩnh vực giáo dục hay khoa học công nghệ.
Quản lý nước mặt theo khả năng chịu tải thực chất
Đề cập đến quy định về cơ chế quản lý nước mặt, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH thành phố Huế Nguyễn Thị Sửu cho rằng, việc quản lý xả thải vào nước mặt phải dựa trên từng đoạn nguồn nước, từng thông số ô nhiễm và đặc điểm theo mùa. Đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc: Khi khả năng chịu tải của một hoặc một số thông số ô nhiễm đã hết, tuyệt đối không cấp mới hoặc tăng tải lượng xả thải đối với chính thông số đó, trừ trường hợp dự án không làm tăng tải lượng gây ô nhiễm hoặc có mục tiêu cải thiện chất lượng môi trường. Đồng thời, cần bổ sung cơ chế kiểm soát tạm thời tại Điểm e Khoản 1 Điều 42 khi chưa công bố chính thức khả năng chịu tải, tránh việc thiếu dữ liệu bị lợi dụng để bỏ qua tiêu chí chịu tải khi cấp phép.
Về thị trường carbon, đại biểu Nguyễn Thị Sửu nhấn mạnh, cần siết chặt chuỗi pháp lý thị trường carbon. Thay vì áp đặt tần suất kiểm kê khí nhà kính hàng năm cào bằng, Luật nên xác lập nguyên tắc phân tầng tần suất kiểm kê dựa trên quy mô phát thải, mức độ rủi ro và đối tượng thực hiện nghĩa vụ hạn ngạch.
Đặc biệt, đối với việc chuyển giao quốc tế kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon, đại biểu kiến nghị Điều 139a cần bổ sung nguyên tắc, bắt buộc phải có sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ vào mục tiêu đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), kết quả kiểm kê và tính toàn vẹn môi trường để tránh việc tính trùng.
Phát biểu tiếp thu, giải trình tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên cho biết, dự thảo Luật lần này dự kiến sửa đổi, bổ sung 78/171 điều của Luật Bảo vệ môi trường hiện hành, trong đó bổ sung 2 điều mới (Điều 72a và Điều 139a). Tinh thần chủ đạo là tập trung đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực môi trường.

Đối với các nội dung được kiến nghị, Thứ trưởng Lê Trọng Yên khẳng định cơ quan soạn thảo sẽ tiếp thu đầy đủ các ý kiến nhằm hoàn thiện dự thảo Luật trình Quốc hội.
Phát biểu kết luận tại Hội nghị, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị, cơ quan soạn thảo cần đánh giá kỹ tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất và liên thông giữa các văn bản quy phạm pháp luật để tránh chồng chéo, xung đột.
Đồng thời, cần tập trung rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến huy động nguồn lực từ người dân và doanh nghiệp tham gia bảo vệ môi trường. Cùng với đó, cần quy định cụ thể về tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp môi trường; hoàn thiện cơ chế khuyến khích đầu tư, sản xuất kinh doanh xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn và thị trường carbon. Dự thảo Luật cũng cần bổ sung cơ chế thực nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các công nghệ, quy trình, mô hình đổi mới sáng tạo, đồng thời phát huy vai trò giám sát của cộng đồng dân cư trong công tác bảo vệ môi trường.
Về các nội dung cụ thể, Phó Chủ tịch Quốc hội yêu cầu rà soát, hoàn thiện các quy định như: hoàn thiện cơ chế phân loại và quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, quản lý chất lượng nước mặt phù hợp với khả năng chịu tải của nguồn nước, cùng các quy định về trách nhiệm tái chế, giảm phát thải khí nhà kính và quan trắc môi trường. Toàn bộ thủ tục hành chính về môi trường phải được thực hiện thống nhất, liên thông trên hệ thống thông tin quốc gia. Đặc biệt, việc phân cấp, phân quyền cho chính quyền cơ sở, nhất là cấp xã, phải gắn liền với việc tăng cường năng lực thực thi, bảo đảm đầy đủ nguồn lực, hạ tầng, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu.




