Tháo gỡ nghẽn thể chế, đẩy mạnh phân quyền để phát triển đô thị bền vững
Thảo luận về dự án Luật Phát triển đô thị, nhiều đại biểu cho rằng, ý nghĩa của dự án luật không chỉ là luật hóa một số cơ chế chính sách đặc thù đã được thực tiễn kiểm nghiệm, mà quan trọng hơn là hình thành một khuôn khổ thể chế mới cho quản trị và phát triển đô thị.
Tiếp tục Chương trình Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, sáng nay (11/8), dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu Quốc hội thảo luận tại hội trường về Dự án Luật Phát triển đô thị.
Dự án Luật Phát triển đô thị, hiện gồm 5 chương, 65 điều, được xây dựng nhằm tạo hành lang pháp lý ổn định, đột phá, khả thi, thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, các thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt.
Thảo luận về dự án luật, các đại biểu cho rằng việc xây dựng luật cần bám sát, thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Nghị quyết số 09-NQ/TW và các nghị quyết chiến lược khác.
Đồng thời, quá trình xây dựng luật cần tuân thủ nghiêm trình tự, thủ tục theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tiến độ, chất lượng, hiệu quả và tính khả thi; bảo đảm sự thống nhất giữa yêu cầu phát triển của đô thị đặc biệt, Thành phố Hồ Chí Minh, các thành phố khác với yêu cầu quản lý nhà nước của các bộ, ngành, cơ quan Trung ương và các địa phương có liên quan.
Các đại biểu cũng đề nghị tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, phù hợp với điều kiện, đặc điểm của Việt Nam trong thúc đẩy phát triển đô thị.

Trên tinh thần đó, các đại biểu tập trung cho ý kiến đối với 3 nhóm chính sách của dự án luật, gồm: cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố khác được công nhận là đô thị đặc biệt; cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển các thành phố chưa được công nhận là đô thị đặc biệt; cơ chế, chính sách phát triển khu kinh tế đặc biệt.
Tháo gỡ dự án chậm tiến độ và kiểm soát bảo vệ nguồn lực công
Thảo luận về cơ chế tháo gỡ cho các dự án chậm triển khai quy định tại dự thảo Luật, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng) đánh giá, đây là hướng tiếp cận rất cần thiết nhằm giải phóng nguồn lực đất đai đang bị "đóng băng". Tuy nhiên, để cơ chế này vận hành hiệu quả và không bị "biến tướng", đại biểu đề xuất bổ sung cơ chế kiểm soát chặt chẽ. Theo đó, cần xác định đầy đủ nghĩa vụ tài chính khi cho phép tiếp tục dự án phải rà soát, để Nhà nước không thất thu nhưng cũng không xác lập lại nghĩa vụ đã được thực hiện hợp pháp, tránh biến việc giải phóng nguồn lực thành cơ chế hợp thức hóa lợi ích phát sinh từ dự án kéo dài. Với dự án có giá trị đất đai, tài sản công hoặc nghĩa vụ tài chính lớn, phức tạp cần qua thẩm định liên ngành. Đồng thời, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cũng đề nghị cân nhắc thời hạn áp dụng đến ngày 31/12/2036, bởi một cơ chế đặc biệt xử lý tồn đọng kéo dài tới 10 năm sẽ làm giảm tính cấp bách và tạo tâm lý chờ đợi.
Về quy hoạch tổng thể thành phố - quy hoạch thay thế quy hoạch tỉnh và quy hoạch chung đô thị đặc biệt, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn nhấn mạnh đây là bước phân quyền rất mạnh. Dù vậy, quy hoạch của "siêu đô thị" có tác động vượt địa giới hành chính, ảnh hưởng tới hạ tầng quốc gia. Đại biểu đề xuất luật phải quy định rõ việc lấy ý kiến và xử lý ý kiến của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ đối với nội dung liên quan đến quy hoạch ngành, hạ tầng quốc gia và liên vùng trước khi thành phố phê duyệt, thay vì chỉ quy định nghĩa vụ báo cáo sau khi Hội đồng nhân dân (HĐND) thông qua.
Đối với liên kết vùng, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn chỉ ra, các vấn đề khó nhất thường nằm ở chỗ lợi ích không đồng nhất (như khu xử lý chất thải, lưu vực sông, nguồn nước). Nếu chỉ quy định đồng thuận mà không có cơ chế xử lý bất đồng thì sẽ bế tắc. Đại biểu kiến nghị, nếu các địa phương không thống nhất được sau một thời gian nhất định, cơ quan điều phối vùng phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xử lý, quyết định theo thẩm quyền.
Tham gia đóng góp về quy hoạch vùng, đại biểu Tô Ái Vang (Đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ) nhận định, dự thảo Luật đang chưa đề cập đến quy hoạch vùng Đông Nam Bộ theo Luật Quy hoạch, dễ tạo ra khoảng trống pháp lý. Nhằm thể chế hóa Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị, đại biểu kiến nghị dự thảo Luật làm rõ mối quan hệ, thứ bậc quy hoạch và bổ sung quy định về quy hoạch phát triển đô thị vùng, vùng đô thị đặc biệt cùng tiêu chí xác định ranh giới cụ thể.
Quy định rõ các lĩnh vực "không được thí điểm"
Liên quan đến việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn phân tích các dự án quy mô từ 800 tỷ đến 75.000 tỷ đồng cần nhiều thời gian để nghiên cứu khả thi và thu xếp vốn. Việc quy định thời hạn nộp hồ sơ cho nhà đầu tư thứ hai chỉ có 7 ngày và ban hành tiêu chí chấm điểm sau khi tiếp nhận hồ sơ là chưa đảm bảo cạnh tranh thực chất. Đại biểu đề nghị công khai danh mục dự án và tiêu chí chấm điểm trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia trước khi nhận hồ sơ, đồng thời kéo dài thời hạn tiếp nhận tối thiểu 45 ngày đối với dự án lớn.
Về cơ chế thí điểm, chính sách mới, đại biểu Lê Thị Song An (Đoàn ĐBQH tỉnh Tây Ninh) đề xuất đổi mới tư duy làm luật. Theo đó, thay vì liệt kê danh mục các lĩnh vực được thí điểm (khiến danh mục dễ trở thành giới hạn cho sự chủ động của địa phương), Luật nên quy định rõ các lĩnh vực "không được thí điểm". Những vấn đề còn lại sẽ giao cho thành phố chủ động đề xuất, quyết định theo quy trình, điều kiện kiểm soát. Đồng thời, đại biểu đề nghị mạnh dạn phân quyền cho HĐND thành phố quyết định chuyển các chính sách thí điểm thành công sang áp dụng chính thức trên địa bàn nếu đáp ứng các tiêu chí quy định, thay vì lại phải làm thủ tục kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản mới.
Phát biểu tại phiên họp, đại biểu Nguyễn Đại Thắng (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) ghi nhận cao các chính sách đột phá của dự thảo Luật. Tuy nhiên, đối với quy định cho phép Chính phủ sau khi báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội được ban hành chính sách thí điểm khác hoặc chưa có trong luật, đại biểu đề nghị cần xác định rõ phạm vi, giới hạn quyền hạn, loại trừ các nội dung thuộc thẩm quyền của Quốc hội theo Hiến pháp; quy định thời hạn thí điểm, cơ chế giám sát và trách nhiệm báo cáo Quốc hội.
Bên cạnh đó, đại biểu cũng lưu ý, việc giao HĐND thành phố quyết định chính sách thu nhập đối với người làm việc tại một số cơ quan Trung ương trên địa bàn cần cân nhắc kỹ để tránh ảnh hưởng đến tính thống nhất của chế độ công vụ. Cần quy định rõ nguồn kinh phí do ngân sách địa phương đảm bảo, không sử dụng ngân sách Trung ương. Đồng thời, cần làm rõ mối quan hệ giữa cơ chế thử nghiệm với pháp luật chuyên ngành (đất đai, điện lực, đầu tư, quy hoạch). Quy định nguyên tắc bảo vệ cán bộ trong trường hợp đã làm đúng quy trình nhưng phát sinh rủi ro khách quan.
Ngoài ra, đại biểu đề nghị rà soát để sửa đổi đồng bộ Luật Xử lý vi phạm hành chính chung cho các đô thị đủ điều kiện thay vì thiết kế thành cơ chế đặc thù riêng lẻ.
Đồng tình với yêu cầu tinh gọn và nâng cao hiệu lực bộ máy, đại biểu Lê Thị Song An đề nghị phân định rõ những vấn đề lớn, chiến lược thuộc thẩm quyền HĐND; công việc quản trị, tổ chức thực hiện giao cho UBND. Còn các vấn đề điều hành thường xuyên cần quyết định nhanh thì giao trực tiếp cho Chủ tịch UBND thành phố, tiến tới nghiên cứu áp dụng chế độ thủ trưởng.
Gắn phát triển đô thị với quốc phòng, an ninh và kinh tế biển
Từ góc độ bảo vệ an ninh quốc gia, đại biểu Trần Quang Tâm (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) nhấn mạnh nguyên tắc phát triển kinh tế phải gắn chặt với củng cố quốc phòng, an ninh. Đại biểu đề xuất cần đặt các cơ chế đặc thù vượt trội trong khuôn khổ bảo vệ chủ quyền quốc gia; quy định bắt buộc phải có ý kiến đồng ý của Bộ Quốc phòng đối với các dự án tại vị trí chiến lược, biên giới, biển đảo, vùng trời, khu vực phòng thủ; kiểm soát chặt chẽ việc khai thác tài nguyên, không gian ngầm và không gian tầm thấp. Đồng thời bổ sung cơ chế ứng phó tình trạng khẩn cấp, phòng thủ dân sự cho chính quyền đô thị đặc biệt; rà soát đối chiếu đồng bộ với Luật Quốc phòng, Luật Biên phòng Việt Nam, Luật Hàng không dân dụng...
Cùng góc nhìn phát triển không gian, đại biểu Tô Ái Vang kiến nghị bổ sung các quy định về "Chính sách phát triển kinh tế biển và quản lý không gian đô thị đặc thù", "Liên kết đô thị ven biển gắn với phát triển kinh tế biển lưỡng dụng và bảo đảm quốc phòng, an ninh". Việc kết nối dải đô thị ven biển từ TP.HCM đến các tỉnh thành sẽ tạo chuỗi giá trị liên hoàn, mở rộng trần tăng trưởng và thiết lập thế trận phòng thủ vững chắc trên biển.
Đề xuất cơ chế phát triển khu kinh tế đặc biệt
Quan tâm đến các đô thị động lực đang trên đà phát triển, đại biểu Phạm Văn Thịnh (Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh) và đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà (Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh) chỉ ra rằng việc bắt buộc thành phố chưa là đô thị đặc biệt phải có "chủ trương của cấp có thẩm quyền" và chờ "quy định phạm vi của Chính phủ" mới được áp dụng một số cơ chế sẽ tạo ra rào cản hành chính. Đại biểu Phạm Văn Thịnh đề xuất cho phép các thành phố này được thực hiện ngay một số chính sách trong Luật. Đồng thời, đại biểu đề nghị sửa khoản 3, 4 Điều 1 để cho phép các địa phương này được áp dụng điểm a khoản 2 Điều 7 (ban hành thủ tục hành chính thực hiện nhiệm vụ được phân cấp), tránh tình trạng được phân cấp nhưng không thể triển khai vì thiếu thủ tục.
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng việc giao toàn bộ việc xác định cơ chế cho nghị định mà thiếu tiêu chí định tính về "năng lực thực thi" dễ phát sinh cơ chế "xin - cho". Đại biểu đề nghị luật hóa danh mục tối thiểu các cơ chế mà thành phố trực thuộc Trung ương đương nhiên được áp dụng. Về hiệu lực văn bản, đại biểu phản ánh quy định tại khoản 1 Điều 66 làm cho thời điểm hết hiệu lực của Nghị quyết Quốc hội bị lệ thuộc vào tiến độ ban hành Nghị định của Chính phủ, chưa đảm bảo nguyên tắc pháp lý; do đó đề nghị áp dụng kỹ thuật ấn định thời điểm rõ ràng tương tự như đã làm với Nghị quyết 98.




