Tìm giải pháp trữ nước tại Đồng bằng sông Cửu Long

Moitruong.net.vn

– Viện Khoa học Tài nguyên nước và Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Tài nguyên và Môi trường) tổ chức Hội nghị báo cáo nghiên cứu giải pháp tổng thể trữ nước tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Lê Công Thành cho biết: Trữ nước ở Đồng bằng sông Cửu Long là cần thiết, đặc biệt cho những năm hạn, nhằm mục đích phục vụ sinh hoạt, công nghiệp, đáp ứng nhu cầu tối thiểu cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, góp phần đẩy mặn.

Đến nay, ở Đồng bằng sông Cửu Long chưa có một giải pháp tổng thể, toàn diện về vấn đề trữ nước cho toàn vùng và các tiểu vùng, mang tính liên ngành, trên cơ sở tầm nhìn dài hạn (đến năm 2050, 2100) và định hướng chuyển đổi mô hình phát triển Đồng bằng sông Cửu Long theo tinh thần của Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu. Các nghiên cứu, dự án chỉ dừng lại ở mức độ vùng nhỏ hoặc cục bộ, chưa thể hiện rõ khả năng liên kết vùng, chủ yếu chỉ nghiên cứu về số lượng nước mà chưa làm rõ được về chất lượng nước.

Chính vì vậy, Viện Khoa học Tài nguyên nước và Cục Biến đổi khí hậu cần tiếp tục xây dựng các kế hoạch chi tiết song song với những nhiệm vụ được giao, cố gắng hoàn thành báo cáo tổng thể vào tháng 6/2020. Đồng thời, quán triệt tinh thần của Nghị quyết số 120/NQ-CP, có thể phối kết hợp các Bộ, ngành khác xây dựng giải pháp tổng thể trữ nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hệ thống sông Tiền đang bị xâm nhập mặn rất nghiêm trọng

Phó Viện trưởng Viện Khoa học tài nguyên nước Nguyễn Anh Đức đưa ra một số giải pháp trữ nước như: Trên hệ thống kênh rạch, trên ô đồng, trong các hồ chứa nhỏ chỉ có ý nghĩa cấp nước cục bộ cho từng khu vực vừa và nhỏ (ví dụ hồ Ba Tri tại Bến Tre). Tại các vườn quốc gia bị giới hạn bởi các quy định liên quan đến việc bảo tồn và hạn chế can thiệp vào hệ sinh thái của vườn…

Đặc biệt trữ nước trên hệ thống kênh rạch là giải pháp khả thi cấp nước nội vùng, có tác dụng tích cực nhất, có thể thấy qua các ví dụ thực tế ở tỉnh Bến Tre, Long An, Tiền Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng.

Bên cạnh những giải pháp kỹ thuật nêu trên, một số dự án đề xuất việc sử dụng biện pháp công trình (cống và đê) nhằm ngăn các nhánh sông lớn trở thành hồ chứa nước ngọt, như đã thực hiện với nhánh sông Ba Lai tại Bến Tre, nhánh sông Cửa Trung (Tiền Giang), sông Cái Lớn – Cái Bé (Kiên Giang) với vốn đầu tư lớn, vấn đề tác động môi trường cần phải được xem xét toàn diện.

Qua nghiên cứu, đánh giá sơ bộ các giải pháp trữ nước ở Đồng bằng sông Cửu Long, đại diện Cục Biến đổi khí hậu và Viện Khoa học tài nguyên nước cũng kiến nghị Bộ cần sớm thực hiện một dự án nghiên cứu tổng thể về các giải pháp trữ nước ở vùng này, trên cơ sở tầm nhìn dài hạn (đến năm 2050, 2100), định hướng chuyển đổi mô hình phát triển Đồng bằng sông Cửu Long theo tinh thần của Nghị quyết số 120/NQ-CP mang tính chất liên vùng, liên ngành, dựa trên các số liệu dự báo khí tượng thủy văn trung hạn và dài hạn, kết hợp với kịch bản biến đổi khí hậu được cập nhật mới nhất, xác định được định hướng rõ ràng và đề ra được các giải pháp trữ nước khả thi cho từng vùng sinh thái cụ thể.

“Viện Khoa học Tài nguyên nước bước đầu đã xây dựng đề xuất và đưa vào kế hoạch 2020 một dự án sự nghiệp kinh tế “Xây dựng các giải pháp tổng thể trữ nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhằm giải quyết vấn đề thừa nước vào mùa lũ, thiếu nước vào mùa khô, bảo vệ môi trường, phòng chống xâm mặn”, kiến nghị lãnh đạo Bộ xem xét quyết định để dự án sớm được triển khai”, ông Nguyễn Anh Đức nhấn mạnh.

Tại hội nghị, nhiều đại biểu trong ngành cũng đề xuất các giải pháp, trong đó nhấn mạnh đến việc thu thập và đánh giá các thông tin cơ bản đối với Chiến lược giữ nước ở Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười tại Đồng bằng Sông Cửu Long, do Hà Lan tài trợ thực hiện; nghiên cứu giải pháp quy hoạch vùng Đồng Tháp Mười trở thành vùng trữ nước ngọt cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu (Chương trình Khoa học và công nghệ ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và môi trường giai đoạn 2016-2020) để xây dựng chiến lược về quản lý, khai thác sử dụng nước cho toàn vùng ổn định và bền vững.

Thanh Huyền (T/h)