Nước và Đời sống

(Bài 2) Người dân Hà Nội sẵn sàng chi trả đến đâu cho dịch vụ thoát nước, xử lý nước thải?

Thành Công - Nguyễn Thành • 14:12 05/11/2026

Giá dịch vụ thoát nước, xử lý nước thải đang được TP. Hà Nội lấy ý kiến, đặt ra những băn khoăn của người dân về khả năng chi trả và cách tính phí. Có người lo chi phí sinh hoạt tăng, có người sẵn sàng đóng góp để cải thiện môi trường. Điểm chung là mong muốn mức thu minh bạch, tương xứng với chất lượng dịch vụ và không đẩy gánh nặng về phía những người có thu nhập thấp.

f37d198b-d58b-468a-8e99-78916a698a8c.png

Giá dịch vụ thoát nước, xử lý nước thải đang được TP. Hà Nội lấy ý kiến, đặt ra những băn khoăn của người dân về khả năng chi trả và cách tính phí. Có người lo chi phí sinh hoạt tăng, có người sẵn sàng đóng góp để cải thiện môi trường. Điểm chung là mong muốn mức thu minh bạch, tương xứng với chất lượng dịch vụ và không đẩy gánh nặng về phía những người có thu nhập thấp.

1.png

Với nhiều hộ gia đình, hóa đơn nước hằng tháng đã là một khoản chi cần được cân đối cùng tiền điện, thực phẩm, học hành và các chi phí sinh hoạt khác. Vì vậy, đề xuất bổ sung giá dịch vụ thoát nước, xử lý nước thải khiến không ít người dân băn khoăn, nhất là khi họ chưa nhìn thấy sự thay đổi tương xứng trong chất lượng hạ tầng, trong cả bài toán tính phí thế nào cho thực sự hợp lý.

“

Mỗi tháng hóa đơn nước của gia đình thường dao động từ 220.000 - 280.000 đồng. Tôi không đồng tình với việc phát sinh thêm khoản thu phí xử lý nước thải trong hóa đơn tiền nước mỗi tháng của gia đình. Bởi còn rất nhiều chi phí sinh hoạt khác tôi phải đồng chi, chưa quá nửa tháng, lương đã không còn bao nhiêu. Hiện nay, cách đo đếm lượng nước thải để tính phí vẫn là một khoảng trống, rất khó để xác định.

Bà Trần Thu Trang, cư dân đang sinh sống tại phố Hoàng Ngân

(phường Thanh Xuân, TP. Hà Nội)

Nhà chị Nguyễn Thị Lan Anh hiện có 5 nhân khẩu sinh sống tại phố Đội Nhân (phường Ba Đình, TP. Hà Nội), cũng bày tỏ sự lo ngại khoản thu mới có thể làm tăng áp lực lên ngân sách gia đình.

“

Với hóa đơn nước khoảng 150.000 - 180.000 đồng mỗi tháng và hai con đang tuổi ăn học, gia đình tôi phải tính toán nhiều khoản chi thiết yếu từ tiền ăn uống, học phí đến vui chơi, giải trí của các con. Một khoản tăng thêm dù không lớn cũng có thể khiến việc cân đối chi tiêu trở nên khó khăn hơn.

Chị Nguyễn Thị Lan Anh

2.png
Chị Nguyễn Thị Lan Anh cho biết, gia đình thường xuyên có thói quen tiết kiệm và dạy con cần có thói quen tiết kiệm nước sạch trong gia đình

Nỗi lo không chỉ đến từ những hộ gia đình có nhiều khoản chi cố định. Với sinh viên thuê trọ, tác động của giá dịch vụ có thể lan sang các khoản sinh hoạt khác. Bạn Nguyễn Thị Thúy Nhi, sinh viên đang thuê trọ tại phố Nguyễn Phúc Lai (phường Ô Chợ Dừa, TP. Hà Nội) cho biết: Tiền nước chủ nhà hiện đang thu 100.000 đồng mỗi tháng. Tôi lo lắng khoản thu phí xử lý nước thải có thể trở thành lý do để chủ nhà tăng tiền nước hoặc điều chỉnh các chi phí sinh hoạt khác. Với sinh viên từ tỉnh lên Hà Nội học tập như tôi, ngân sách hàng tháng vốn hạn chế, do đó ngay cả khoản tăng nhỏ cũng cần được tính toán.

“

Hóa đơn nước của gia đình dao động trong khoảng 120.000 - 150.000 đồng mỗi tháng. Tôi thường thanh toán theo tổng số tiền ghi trên hóa đơn, ít chú ý đến từng khoản mục bên trong. Nếu mức thu được tính toán hợp lý, tôi có thể cân nhắc trả thêm dưới 50.000 đồng mỗi tháng cho các chi phí phát sinh hoặc thu thêm.

Anh Nguyễn Văn Mạnh, hiện đang sinh sống tại phố Mậu Lương (phường Kiến Hưng, TP. Hà Đông) chia sẻ

Tuy nhiên, đây chỉ là mức anh Mạnh tự cân đối trong các khoản chi của gia đình, không phải ngưỡng chi trả chung của người dân.

3.png
Nước sạch là yếu tố không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của hộ gia đình

Những ý kiến khác nhau cho thấy khả năng chấp nhận khoản thu mới phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của từng hộ. Với người dân, câu chuyện không chỉ là số tiền phải đóng thêm, mà còn là khoản tiền ấy có hợp lý so với thu nhập, nhu cầu sinh hoạt và chất lượng dịch vụ đang được cung cấp hay không.

4.png

Bên cạnh những băn khoăn về chi phí, một số người dân cho rằng việc thu giá dịch vụ thoát nước, xử lý nước thải là cần thiết nếu nguồn tiền được sử dụng đúng mục đích và góp phần cải thiện môi trường.

“

Hiện tại, tôi chưa nắm thông tin về dự thảo. Song, tôi thấy việc thu tiền để duy trì hệ thống cống rãnh, vận hành các công trình xử lý nước thải là cần thiết. Với gia đình bốn người, trong đó có hai con đang tuổi ăn học, cân đối các chi phí, gia đình tôi có thể chấp nhận tăng thêm vài chục nghìn đồng mỗi tháng. Nếu khoản tăng lớn hơn, gia đình sẽ phải cân nhắc cắt giảm những chi phí khác, sẽ ảnh hưởng đến chi tiêu chung của gia đình.

Bà Nguyễn Thị Lý, cư dân tại tòa chung cư CT2 Xuân Mai (phường Kiến Hưng, TP. Hà Nội) cho biết

1793786265371_1319739543891595708_1319739543891595708_117164e4437348640d0502dd01a171df.jpg
Bà Nguyễn Thị Kiều Trang phấn khởi chia sẻ

“

Gia đình tôi có 4 thành viên. Lượng nước sinh hoạt mỗi tháng không nhiều, do đó, nước thải ra hệ thống xử lý cũng không nhiều như các hộ gia đình đông người, hộ kinh doanh, sản xuất. Tôi biết dự thảo đưa ra đều có ý tốt, nhằm bảo vệ môi trường, song, nếu đây là một nguồn thu có tăng phí theo lộ trình, thoe thời gian thì những gia đình nhỏ như chúng tôi thấy không hợp lý, rất có thể trở thành gánh nặng kinh tế, bên cạnh nhiều áp lực thu chi khác.

Bà Nguyễn Thị Kiều Trang (phố Hoa Bằng, phường Cầu Giấy, TP. Hà Nội)

Bà Nguyễn Thị Lý nghiêng về phương án tính theo lượng nước sạch tiêu thụ, bởi cách này dễ theo dõi và có thể khuyến khích tiết kiệm nước. “Dùng bao nhiêu nước sạch thì dĩ nhiên xả ra bấy nhiêu nước thải. Cứ đồng hồ nước sạch chạy bao nhiêu m³ thì nhân tỷ lệ tiền thoát nước bấy nhiêu. Cách này vừa dễ đo đếm, minh bạch, lại công bằng; nhà nào dùng lãng phí thì trả nhiều, nhà nào tiết kiệm thì trả ít. Tính theo đầu người phức tạp vì có gia đình thường xuyên đi vắng, khách đến chơi hay tạm trú, rất khó quản lý - bà Lý nói.

Bà Nguyễn Thị Kiều Trang (phố Hoa Bằng, phường Cầu Giấy, TP. Hà Nội) cho biết, nếu bắt buộc tính giá thu phí nước thải nên tính theo lượng nước sử dụng và mong muốn đảm bảo chất lượng hệ thống cấp nước sạch và thu gom, xử lý nước thải. Theo bà, nơi nào đã được đấu nối hệ thống thu gom, xử lý nước thải triệt để thì thu mức hoàn chỉnh. Còn nơi nào chưa được kết nối đầy đủ hoặc nước thải vẫn xả trực tiếp ra môi trường thì nên áp dụng mức thu thấp hơn hoặc tạm hoãn cho đến khi hạ tầng hoàn thiện, như vậy mới công bằng cho người dân.

“

Nước thải sinh hoạt của mỗi hộ gia đình khác nhau, không thể đồng bộ, tính bình quân theo hướng bao nhiêu khối nước sạch sẽ tính phần trăm tương ứng với nước thải, chưa nói đến nước thải được chứa đựng trong các bể phốt, bể chứa của gia đình, không thải ra ngoài môi trường. Do đó, cách đo đạc, tính toán và khung thanh toán cần được làm rõ.

Bà Trần Thu Trang (phường Thanh Xuân, TP. Hà Nội)

6.png
Từ sinh hoạt, sản xuất,.. đến quyết định chất lượng cuộc sống của mỗi người dân

Đối với cơ sở kinh doanh, cách tính theo lượng nước sử dụng cũng được xem là dễ hiểu hơn so với tính theo số người. Bà Nguyễn Thị Huyền, chủ cơ sở kinh doanh bún phở và đồ ăn sáng trên phố Vũ Trọng Phụng (phường Thanh Xuân, TP. Hà Nội), cho biết, hóa đơn nước của quán dao động từ 1 - 1,5 triệu đồng mỗi tháng. Bà đồng tình với nguyên tắc sử dụng nhiều nước thì đóng góp nhiều hơn, nhưng cho rằng mức thu đối với hộ kinh doanh nhỏ cần tính đến quy mô và khả năng chi trả. Bà Huyền nói thêm, "quán nhà tôi nằm ở mặt đường lớn, cống rãnh xung quanh có thể đã được đấu nối, nhưng nhiều hàng quán ở các khu vực ngõ ngách, hệ thống thoát nước kém, mưa xuống là ngập úng, nước thải ứ đọng không rút kịp thì sao bắt họ chịu mức phí cao như khu vực hạ tầng tốt được. Nhà nước thu tiền dịch vụ thì chất lượng thu gom, xử lý ở đâu phải tương xứng với ở đó".

Từ các ý kiến này, có thể thấy người dân không chỉ đặt câu hỏi về mức giá, mà còn về cơ sở xác định mức giá đó. Khi điều kiện hạ tầng và chất lượng dịch vụ chưa đồng đều, cách tính cần làm rõ mối quan hệ giữa lượng nước sử dụng, lượng nước thải phát sinh và khả năng thu gom, xử lý tại từng khu vực.

7.png

Một trong những băn khoăn được nhiều người nhắc đến là chưa hiểu rõ các khoản phí đang có trong hóa đơn nước. Bà Lý cho biết gia đình thường thanh toán tổng tiền nước khoảng 300.000 đồng mỗi tháng, nhưng chưa phân biệt rõ phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt với giá dịch vụ thoát nước. Muốn người dân đồng thuận thì phải công khai thật rõ ràng 3 điều: Cấu thành giá: Thu bao nhiêu tiền 1m³, tính toán dựa trên cơ sở nào? Sự khác biệt: Phân biệt rõ khoản thu mới này khác gì so với Phí bảo vệ môi trường đang thu hiện nay. Lộ trình cải thiện: Tiền thu được sẽ đầu tư vào dự án xử lý nước thải nào, ở đâu và khi nào hoàn thành để dân giám sát - bà Lý nói.

8.png
Nước thải sinh hoạt được thu gom, xử lý

Với cơ sở kinh doanh, bà Huyền muốn biết giá dịch vụ mới đã nằm trong hóa đơn hay chưa, đồng thời đề nghị công khai cách tính riêng đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ sử dụng và xả thải nhiều nước ra môi trường.

Bà Huyền nói: Tôi chỉ mong thành phố cam kết hai điều: Một là tiền thu của dân phải được quản lý chặt chẽ, đưa vào đúng quỹ đầu tư nhà máy xử lý nước thải chứ không được để thất thoát. Hai là phải có kết quả thực tế cho người dân thấy: Sông ngòi ở Hà Nội phải dần trong sạch lại, hệ thống cống thoát nước phải thông thoáng để những hộ kinh doanh mặt đường như nhà tôi không còn phải nơm nớp lo cảnh ngập nước mỗi khi trời mưa giông nữa.

Những chia sẻ này đặt ra yêu cầu cơ quan quản lý giải thích chính sách theo cách dễ hiểu, cụ thể và dễ kiểm tra để người dân nắm bắt. Nếu người dân chưa phân biệt được các khoản phí hiện có, việc bổ sung một khoản thu mới cần làm rõ mình đang trả tiền cho dịch vụ nào, cơ sở tính toán ra sao và có khác biệt gì so với khoản thu trước đó.

Bên cạnh minh bạch nguồn thu và kết quả đầu tư, chính sách cũng cần tính đến những nhóm có khả năng chi trả hạn chế. Hộ nghèo, cận nghèo và gia đình chính sách cần được xem xét cơ chế miễn, giảm phù hợp. Sinh viên thuê trọ cần được bảo vệ trước nguy cơ khoản thu mới làm phát sinh chi phí gián tiếp. Hộ kinh doanh nhỏ cũng cần mức thu tương xứng với quy mô hoạt động và khả năng chi trả.

9.png
Nước thải sinh hoạt được xả thải trực tiếp ra kênh mương trong các khu dân cư

Đặc biệt, những khu vực chưa có hệ thống thu gom, xử lý nước thải hoàn chỉnh cần được xem xét cơ chế tính giá phù hợp với điều kiện tiếp cận dịch vụ. Với người dân chưa được đấu nối hạ tầng, việc thu phí cần gắn với lộ trình đầu tư và những cam kết cụ thể về cải thiện dịch vụ.

Công bằng trong thu giá dịch vụ, vì vậy, không chỉ nằm ở việc mỗi hộ sử dụng bao nhiêu nước, mà còn ở việc người dân được tiếp cận dịch vụ như thế nào và có đủ khả năng chi trả hay không.

Nhà máy nước thải Yên Xá

Giá dịch vụ thoát nước, xử lý nước thải không đơn thuần là một khoản tiền bổ sung trong hóa đơn nước. Đó còn là bài toán về sự công bằng trong tiếp cận dịch vụ công và trách nhiệm bảo vệ môi trường. Người dân có thể sẵn sàng đóng góp, nhưng sự đồng thuận chỉ hình thành khi mức thu được tính toán minh bạch, phù hợp với khả năng chi trả và gắn với kết quả cải thiện môi trường có thể kiểm chứng. Với Hà Nội, điều cần giải đáp không chỉ là thu bao nhiêu, mà còn là làm thế nào để mỗi khoản tiền người dân đóng góp thực sự trở thành nguồn lực cho một hệ thống thoát nước, xử lý nước thải hiệu quả hơn.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
(Bài 2) Người dân Hà Nội sẵn sàng chi trả đến đâu cho dịch vụ thoát nước, xử lý nước thải?
(*) Bản quyền thuộc về Tạp chí điện tử Môi trường và Cuộc sống. Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.