Phát triển xanh

Chuyển dịch năng lượng sạch: Chìa khóa giảm phát thải, ứng phó biến đổi khí hậu

Hạ Vy • 28/10/2026 12:00

Phát triển năng lượng sạch, hoàn thiện hạ tầng truyền tải và đẩy mạnh công nghệ lưu trữ là những giải pháp quan trọng giúp Việt Nam giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh năng lượng và hướng tới mục tiêu Net Zero vào năm 2050.

Nhu cầu năng lượng ngày càng tăng trong khi yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính trở nên cấp thiết đang đặt Việt Nam trước bài toán chuyển dịch năng lượng theo hướng xanh và bền vững. Để quá trình này phát huy hiệu quả, bên cạnh mở rộng các nguồn năng lượng tái tạo, cần phát triển đồng bộ hệ thống truyền tải, công nghệ lưu trữ, nguồn điện ổn định và cơ chế huy động vốn.

Chuyển dịch năng lượng trước sức ép biến đổi khí hậu

Chiều 27/10, tại Hà Nội, Tạp chí Năng lượng Sạch Việt Nam tổ chức Diễn đàn “Năng lượng sạch cho kỷ nguyên tăng trưởng mới”, với sự tham gia của các nhà quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp nhằm trao đổi về định hướng phát triển năng lượng, tháo gỡ những điểm nghẽn và đề xuất giải pháp thúc đẩy chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam.

Phát biểu tại diễn đàn, TS. Mai Duy Thiện, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam (VCEA), Tổng Biên tập Tạp chí Năng lượng Sạch Việt Nam, cho biết Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những mục tiêu lớn về tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng đời sống, bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển bền vững. Trong đó, mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 và cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 đòi hỏi phải đổi mới mô hình tăng trưởng, thúc đẩy chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Theo TS. Mai Duy Thiện, năng lượng không chỉ là điều kiện thiết yếu đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội mà còn quyết định năng lực cạnh tranh, dư địa phát triển của nền kinh tế.

nlg.jpg
Quang cảnh diễn đàn

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc cắt giảm phát thải khí nhà kính, phát triển năng lượng sạch có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Việc mở rộng các nguồn điện gió, điện mặt trời và những nguồn năng lượng phát thải thấp có thể góp phần giảm phát thải từ hoạt động sản xuất điện, đồng thời tạo điều kiện để các ngành kinh tế chuyển đổi theo hướng xanh hơn.

Tuy nhiên, chuyển dịch năng lượng không chỉ đơn giản là thay thế nguồn điện này bằng nguồn điện khác. Quá trình này đòi hỏi phải giải quyết đồng thời nhiều yêu cầu, từ bảo đảm cung ứng điện đầy đủ, ổn định với chi phí hợp lý đến nâng cấp hạ tầng, đổi mới công nghệ và huy động nguồn lực đầu tư.

Thời gian qua, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện các định hướng, cơ chế, chính sách phát triển năng lượng, trong đó có việc điều chỉnh Quy hoạch điện VIII và ban hành Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Theo Chủ tịch VCEA, tiềm năng phát triển năng lượng sạch của Việt Nam còn đáng kể, từ điện mặt trời, điện gió trên bờ, điện gió ngoài khơi đến sinh khối và các nguồn năng lượng mới. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả những tiềm năng này, cần tăng cường sự liên kết giữa chính sách, khoa học công nghệ, hạ tầng, tài chính, thị trường và nhu cầu sử dụng năng lượng của doanh nghiệp.

Năng lượng sạch vì thế không chỉ là câu chuyện của ngành điện mà còn gắn với chiến lược phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư, nâng cao chất lượng tăng trưởng và khả năng hội nhập kinh tế của Việt Nam.

Nhu cầu điện tăng, yêu cầu giảm phát thải ngày càng lớn

Tại diễn đàn, bà Nguyễn Thị Thu Huyền, đại diện Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), cho biết giai đoạn 2016 - 2025, sản lượng điện thương phẩm của Việt Nam tăng bình quân 7,6%/năm, trong khi công suất cực đại tăng 6,9%/năm. Năm 2025, sản lượng điện thương phẩm đạt khoảng 288 tỷ kWh, công suất cực đại khoảng 54 GW.

Trong những năm tới, nhu cầu năng lượng được dự báo tiếp tục tăng do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự phát triển của các trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và giao thông điện hóa. Đây đều là những lĩnh vực có thể làm gia tăng đáng kể nhu cầu sử dụng điện.

Theo bà Nguyễn Thị Thu Huyền, nhu cầu năng lượng cuối cùng của Việt Nam dự kiến đạt khoảng 110 - 122 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2030 và tăng lên khoảng 186 - 207 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2050. Nhu cầu điện trong giai đoạn đến năm 2030 được dự báo tăng khoảng 10 - 12%/năm, dù tốc độ tăng trưởng có thể điều chỉnh trong những giai đoạn tiếp theo.

Áp lực gia tăng nhu cầu điện diễn ra đồng thời với yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính. Nếu nguồn cung năng lượng tăng chủ yếu dựa vào nhiên liệu hóa thạch, lượng phát thải từ hoạt động sản xuất điện có thể tiếp tục tạo sức ép đối với mục tiêu chuyển đổi xanh.

Trong khi đó, điện mặt trời và điện gió đang ngày càng giữ vai trò lớn hơn trong cơ cấu nguồn điện của Việt Nam, nhưng nhiệt điện than vẫn chiếm tỷ trọng trên 30%, theo thông tin được trình bày tại diễn đàn.

dmt.jpg
Lắp đặt điện mặt trời mái nhà ở TP.HCM. Ảnh minh họa

Thực tế này cho thấy chuyển dịch năng lượng cần được triển khai theo lộ trình phù hợp, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, vừa từng bước giảm cường độ phát thải. Cùng với mở rộng năng lượng tái tạo, cần nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong công nghiệp, thúc đẩy điện khí hóa phù hợp và ứng dụng các công nghệ phát thải thấp.

Đây cũng là yêu cầu ngày càng quan trọng đối với doanh nghiệp xuất khẩu khi nhiều thị trường quốc tế nâng cao tiêu chuẩn môi trường đối với hàng hóa và hoạt động sản xuất. Chuyển đổi xanh không chỉ góp phần thực hiện các cam kết khí hậu mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh và tiếp cận thị trường của doanh nghiệp Việt Nam.

Công nghệ lưu trữ: Giải bài toán sử dụng điện sạch hiệu quả

Một trong những vấn đề được các đại biểu nhấn mạnh tại diễn đàn là khoảng cách giữa khả năng sản xuất điện sạch và khả năng đưa nguồn điện này đến đúng nơi, đúng thời điểm có nhu cầu.

Ông Nguyễn Văn Thiện, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghiệp GG (GG Power), cho rằng sản xuất được điện sạch mới chỉ giải quyết một phần bài toán. Phần còn lại là bảo đảm nguồn điện được cung cấp đúng thời điểm, với chất lượng phù hợp và đáp ứng yêu cầu vận hành của hệ thống.

Khi tỷ trọng điện mặt trời, điện gió tăng lên, việc cân bằng cung - cầu điện trở thành yêu cầu quan trọng. Đặc điểm của các nguồn năng lượng này là sản lượng phát điện phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, trong khi nhu cầu tiêu thụ điện có thể tăng cao vào những thời điểm nguồn cung không thuận lợi.

Hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS) được xem là một trong những giải pháp hỗ trợ khắc phục hạn chế này. Hệ thống có thể tích trữ điện khi nguồn cung dồi dào và đưa điện trở lại hệ thống khi nhu cầu tăng cao, qua đó góp phần cân bằng cung - cầu, hỗ trợ ổn định tần số, điện áp và giảm áp lực quá tải cục bộ trên lưới điện.

Việc phát triển công nghệ lưu trữ có ý nghĩa đối với quá trình chuyển dịch năng lượng, bởi khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo không chỉ phụ thuộc vào công suất lắp đặt mà còn liên quan đến khả năng điều độ, truyền tải và sử dụng điện hiệu quả.

Tuy nhiên, theo đại diện GG Power, việc triển khai BESS vẫn gặp những khó khăn về cơ chế doanh thu, giá dịch vụ lưu trữ, nguồn vốn đầu tư, tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn phòng cháy, chữa cháy.

Để thúc đẩy lĩnh vực này, cần hoàn thiện cơ chế thanh toán cho dịch vụ lưu trữ, mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng xanh, tăng cường kiểm tra chất lượng thiết bị và khuyến khích doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Bên cạnh công nghệ lưu trữ, việc đầu tư đồng bộ hệ thống truyền tải, phát triển các nguồn điện linh hoạt và nghiên cứu thủy điện tích năng cũng được đặt ra nhằm nâng cao khả năng vận hành ổn định của hệ thống điện khi tỷ trọng năng lượng tái tạo tiếp tục tăng.

Hydrogen sạch và điện hạt nhân trong chiến lược giảm phát thải

Bên cạnh điện gió, điện mặt trời và các giải pháp lưu trữ, hydrogen sạch cũng được đề cập như một hướng phát triển tiềm năng, đặc biệt đối với những lĩnh vực khó giảm phát thải bằng các giải pháp điện khí hóa thông thường.

PGS.TS. Phạm Hoàng Lương, giảng viên cao cấp Đại học Bách khoa Hà Nội, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam, cho biết thị trường hydrogen tại Việt Nam hiện có quy mô khoảng 500.000 tấn/năm, nhưng toàn bộ sản lượng vẫn được sản xuất từ nhiên liệu hóa thạch. Hoạt động sản xuất và tiêu thụ chủ yếu diễn ra trong phạm vi từng nhà máy, trong khi hạ tầng lưu trữ, vận chuyển và phân phối gần như chưa phát triển.

Theo ông Lương, hydrogen sạch có thể trở thành nguyên liệu đầu vào quan trọng cho sản xuất phân bón, luyện kim, đồng thời mở ra khả năng phát triển các loại nhiên liệu thay thế trong giao thông vận tải và hàng hải.

Dù vậy, chi phí vẫn là rào cản lớn. Giá hydrogen xanh hiện cao gấp 2,5 - 4,5 lần hydrogen truyền thống. Bên cạnh đó, cơ chế bao tiêu sản phẩm, khung pháp lý, tiêu chuẩn chứng nhận và hạ tầng vận chuyển chưa hoàn thiện.

Để hydrogen xanh có thể đóng góp thực chất vào quá trình giảm phát thải, cần phát triển đồng bộ hạ tầng, xây dựng cơ chế hỗ trợ các dự án tiên phong và hình thành thị trường tiêu thụ đủ ổn định để thu hút đầu tư. Đồng thời, cần đánh giá hiệu quả giảm phát thải trên toàn bộ quá trình sản xuất, vận chuyển và sử dụng hydrogen, thay vì chỉ căn cứ vào tên gọi của công nghệ.

Một hướng đi khác được đề cập tại diễn đàn là phát triển điện hạt nhân nhằm bổ sung nguồn điện nền có khả năng cung ứng ổn định.

TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ), nhấn mạnh vai trò của điện hạt nhân trong bảo đảm an ninh năng lượng và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Tuy nhiên, phát triển điện hạt nhân đòi hỏi quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng về kỹ thuật, hoàn thiện hồ sơ địa điểm, đánh giá an toàn, lựa chọn đối tác chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Việt Nam cũng cần có cơ chế tổ chức triển khai chuyên trách, chiến lược nội địa hóa công nghiệp cơ khí hạt nhân và chương trình đào tạo nhân lực dài hạn.

h2.png
Việt Nam hiện chưa có dự án hydrogen xanh lá hoặc xanh lam quy mô thương mại đi vào vận hành. (Ảnh minh họa)

Việc xem xét các nguồn năng lượng phát thải thấp cần đặt trong tổng thể chiến lược năng lượng quốc gia, trên cơ sở đánh giá đầy đủ về chi phí, mức độ an toàn, tác động môi trường, khả năng cung ứng và tính phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam.

Phát triển năng lượng sạch gắn với tăng trưởng bền vững

Từ góc độ kinh tế, TS. Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), đề cập mối liên hệ giữa năng lượng với khả năng chống chịu của nền kinh tế trước những biến động địa chính trị. Theo ông, năng lượng, vốn và dữ liệu là những yếu tố quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng; bảo đảm an ninh năng lượng cần đi cùng nâng cao tính tự chủ và năng lực phát triển.

Tại phiên thảo luận, các diễn giả thống nhất rằng gia tăng nguồn năng lượng tái tạo là cần thiết nhưng chưa đủ để bảo đảm thành công của quá trình chuyển dịch năng lượng. Nguồn điện, lưới truyền tải, hệ thống lưu trữ, công nghệ mới và cơ chế huy động vốn cần được phát triển đồng bộ.

Đặc biệt, việc thúc đẩy chuyển dịch năng lượng phải gắn với khả năng chi trả của nền kinh tế, bảo đảm cung ứng điện ổn định cho sản xuất và đời sống. Các giải pháp giảm phát thải cần được lựa chọn trên cơ sở hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường và khả năng triển khai trong thực tế.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng đặt ra những thách thức lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch năng lượng sạch không chỉ là yêu cầu của riêng ngành năng lượng mà còn là một bộ phận quan trọng trong chiến lược chuyển đổi xanh của Việt Nam.

Để hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, bên cạnh phát triển các nguồn năng lượng phát thải thấp, cần tăng cường sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, đổi mới công nghệ sản xuất, hoàn thiện cơ chế chính sách và huy động sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp cùng các tổ chức nghiên cứu.

Chỉ khi những giải pháp này được triển khai nhất quán và đồng bộ, năng lượng sạch mới có thể phát huy đầy đủ vai trò trong giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và tạo nền tảng cho quá trình phát triển bền vững.

Bài liên quan
  • Việt Nam – Nga mở rộng hợp tác năng lượng sạch, thúc đẩy kinh tế xanh
    Tại Diễn đàn Ngoại giao nhân dân Nga – Việt Nam lần thứ hai, báo cáo nghiên cứu về hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai nước đề xuất tháo gỡ rào cản thị trường, tăng cường kết nối logistics và mở rộng hợp tác năng lượng sạch, công nghệ. Đây là những hướng đi nhằm chuyển tiềm năng quan hệ song phương thành các cơ hội hợp tác thực chất, tạo động lực tăng trưởng bền vững.

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Chuyển dịch năng lượng sạch: Chìa khóa giảm phát thải, ứng phó biến đổi khí hậu
(*) Bản quyền thuộc về Tạp chí điện tử Môi trường và Cuộc sống. Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.