Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao mở ra hướng canh tác mới tại An Giang
Trong bối cảnh ngành lúa gạo đang chịu nhiều sức ép từ biến đổi khí hậu, chi phí sản xuất gia tăng và yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe, việc triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại An Giang được xem là hướng đi mới đầy triển vọng.
Đề án không chỉ thay đổi phương thức canh tác mà còn góp phần tái cấu trúc chuỗi giá trị ngành lúa gạo theo hướng bền vững, giảm chi phí đầu vào, hạn chế phát thải, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng cường liên kết tiêu thụ.
Canh tác bền vững, giảm phát thải
Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án, tỉnh An Giang đã nhanh chóng xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể. Đây được xem là bước chuyển quan trọng, đưa sản xuất lúa từ chú trọng sản lượng sang nâng cao chất lượng, đồng thời áp dụng các phương thức canh tác thân thiện môi trường.
Năm 2024 được xác định là giai đoạn khởi động, tạo nền tảng cho toàn bộ chương trình. Trên địa bàn Kiên Giang (cũ), diện tích triển khai đạt gần 66.300ha, vượt 110% kế hoạch với sự tham gia của nhiều hợp tác xã, tổ hợp tác và doanh nghiệp. Đáng chú ý, hơn 90% diện tích đã áp dụng các quy trình canh tác bền vững như “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm”, tiêu chuẩn GAP, SRP…
.jpg)
Trong khi đó, tại An Giang (cũ), diện tích thực hiện còn hơn 8.500ha, đạt 41,4% kế hoạch, nhưng các mô hình thí điểm đã cho thấy hiệu quả rõ rệt. Việc giảm lượng giống gieo sạ xuống khoảng 80 kg/ha giúp tiết kiệm 4–5 triệu đồng/ha, đồng thời tăng lợi nhuận từ 3,6–5,3 triệu đồng/ha. Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, mô hình còn góp phần thay đổi tư duy sản xuất của nông dân theo hướng chuẩn hóa, giảm phát thải và thân thiện môi trường.
Bước sang năm 2025, đề án chuyển từ giai đoạn thí điểm sang nhân rộng. Sau khi hợp nhất hai tỉnh An Giang và Kiên Giang, tỉnh An Giang (mới) đã triển khai hơn 150.000ha lúa chất lượng cao, đạt 104% kế hoạch. Trong đó, hơn 43.000ha áp dụng đầy đủ 5 tiêu chí kỹ thuật gồm giảm giống, giảm phân, giảm thuốc, quản lý nước và thu gom rơm rạ.
Những thay đổi từ đồng ruộng
Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh An Giang, Nguyễn Thị Lê đánh giá, Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao mang lại hiệu quả rất rõ ràng.Các mô hình triển khai tại An Giang cho năng suất lúa tăng gần 0,8 tấn/ha, chi phí giảm hơn 4,1 triệu đồng/ha và lợi nhuận tăng thêm hơn 9,3 triệu đồng/ha so với canh tác truyền thống. Các mô hình còn ghi nhận mức giảm phát thải từ 7,5-8,1 tấn CO₂/ha. Đây là con số đáng kể trong bối cảnh ngành nông nghiệp đang chịu áp lực giảm phát thải.
“Một trong những điểm nổi bật của đề án là thay đổi cách tiếp cận trong sản xuất lúa. Thay vì chạy theo năng suất bằng mọi giá, nông dân được hướng dẫn tối ưu đầu vào và nâng cao chất lượng. Các giải pháp như giảm lượng giống, bón phân cân đối, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), tưới ngập khô xen kẽ (AWD)… không chỉ giúp giảm chi phí mà còn tiết kiệm nước, hạn chế phát thải khí nhà kính," bà Lê cho biết.
Theo bà Lê, việc thu gom và xử lý rơm rạ thay vì đốt đồng mang lại lợi ích kép: vừa giảm ô nhiễm môi trường, vừa tạo nguồn nguyên liệu cho sản xuất phân hữu cơ, nấm rơm hoặc năng lượng sinh học. Đồng thời, tổ chức sản xuất thông qua hợp tác xã, tổ hợp tác giúp nông dân tăng khả năng liên kết với doanh nghiệp, giảm phụ thuộc vào thương lái và từng bước tham gia vào chuỗi giá trị bài bản.
Dù đạt nhiều kết quả tích cực, việc triển khai đề án vẫn còn không ít khó khăn. Một bộ phận nông dân còn e ngại thay đổi tập quán canh tác, trong khi các kỹ thuật mới cần thời gian thích nghi. Hạ tầng thủy lợi và năng lượng chưa đồng bộ cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của các giải pháp như tưới ngập khô xen kẽ. Ngoài ra, chi phí đầu vào biến động và chuỗi giá trị lúa gạo chưa ổn định do còn phụ thuộc trung gian cũng là những thách thức đáng lưu ý.
Hướng tới chuỗi giá trị bền vững
Năm 2026, An Giang đặt mục tiêu mở rộng diện tích vùng chuyên canh lúa chất lượng cao lên hơn 183.000ha. Cùng với đó là các mục tiêu giảm 20% lượng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới; đồng thời 100% diện tích áp dụng quy trình canh tác bền vững.
Tỉnh cũng đặt mục tiêu toàn bộ diện tích tham gia đề án có liên kết với doanh nghiệp, tỷ lệ cơ giới hóa đạt trên 40%, thu hút hơn 50.000 hộ nông dân tham gia. Về môi trường, phấn đấu giảm trên 10% phát thải khí nhà kính, thu gom tái sử dụng 70% lượng rơm rạ và giảm thất thoát sau thu hoạch xuống dưới 10%. Đồng thời, triển khai hệ thống MRV để tạo nền tảng tham gia thị trường carbon trong tương lai.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, Trần Thanh Hiệp cho biết hiện nay, việc phát triển các mô hình sản xuất như lúa hữu cơ, lúa chất lượng cao, hay chuyển đổi sang tư duy nông nghiệp xanh, sạch là xu hướng tất yếu. Đây cũng là định hướng mà ngành nông nghiệp và môi trường thường xuyên tham mưu cho Ủy ban Nhân dân tỉnh, nhằm ban hành các cơ chế, chính sách thúc đẩy tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng hiện đại và bền vững.
“Các mô hình trong Đề án 1 triệu ha đã chứng minh hiệu quả rõ rệt, giúp giảm chi phí sản xuất khoảng 4-6 triệu đồng/ha, trong khi vẫn giữ năng suất ổn định, đảm bảo lợi nhuận cho nông dân. Đáng chú ý, giải pháp tưới ngập-khô xen kẽ giúp tiết kiệm nước 2-3 lần, góp phần thích ứng với biến đổi khí hậu," ông Hiệp cho biết.
Theo ông Hiệp, hiện nhiều doanh nghiệp và hợp tác xã tại An Giang đã chuyển sang sản xuất lúa gạo theo đơn đặt hàng, kiểm soát chặt chẽ chất lượng để đáp ứng các tiêu chuẩn cao, đặc biệt là những thị trường khó tính như Nhật Bản. Nhờ đó, giá trị và thương hiệu hạt gạo được nâng lên đáng kể, tạo kỳ vọng cho đề án tiếp tục tăng tốc trong thời gian tới và góp phần cải thiện thu nhập cho người dân.
Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao không chỉ là câu chuyện riêng của ngành nông nghiệp mà còn thể hiện bước chuyển của kinh tế nông thôn. Từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, ngành lúa gạo đang từng bước hướng tới quy mô lớn, chuẩn hóa và gắn kết chặt chẽ với thị trường.
Với những kết quả bước đầu tích cực cùng định hướng rõ ràng, An Giang đang từng bước khẳng định vai trò là một trong những trung tâm sản xuất lúa gạo chất lượng cao của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.




