Lâm nghiệp phía Nam đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng giá trị kinh tế rừng
Ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số đang mở ra dư địa tăng trưởng mới cho ngành lâm nghiệp phía Nam. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả tài nguyên rừng, nâng giá trị sản phẩm gỗ và phát triển bền vững, ngành cần tháo gỡ những điểm nghẽn từ vùng nguyên liệu, nghiên cứu giống đến chế biến và truy xuất nguồn gốc.
Chiều 2/11, tại TP Cần Thơ, trong khuôn khổ Hội nghị phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp khu vực phía Nam, hội thảo chuyên đề lâm nghiệp và kiểm lâm đã tập trung phân tích những khó khăn trong chuỗi giá trị rừng trồng và công nghiệp chế biến gỗ.

Các ý kiến tại hội thảo nhấn mạnh yêu cầu đưa khoa học công nghệ vào từng công đoạn sản xuất, đồng thời tăng cường liên kết giữa cơ sở nghiên cứu, người trồng rừng và doanh nghiệp để hình thành chuỗi giá trị xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến thị trường.
Theo báo cáo của Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, đến cuối năm 2025, cả nước có khoảng 14,971 triệu ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 42,03%. Giai đoạn 2021-2025, giá trị gia tăng ngành lâm nghiệp tăng bình quân khoảng 4,9%/năm, riêng năm 2025 tăng 5,7%. Kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản đạt 18,33 tỷ USD.
Dù đạt nhiều kết quả tích cực, giá trị thu được từ tài nguyên rừng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Tăng trưởng về diện tích rừng, sản lượng gỗ và xuất khẩu chưa đồng nghĩa với việc nâng cao giá trị gia tăng trong toàn chuỗi. Theo GS.TS. Phạm Văn Điển, Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, dư địa phát triển của ngành không chỉ nằm ở tăng sản lượng mà còn ở nâng chất lượng nguyên liệu, đẩy mạnh chế biến sâu và gia tăng giá trị trên mỗi đơn vị sản phẩm.
Một trong những hạn chế hiện nay là khoa học công nghệ chưa được ứng dụng đồng bộ. Giai đoạn 2021-2025, ngành đã công nhận 102 giống mới, xây dựng trên 60 quy trình, hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng thâm canh và công nhận 18 tiến bộ kỹ thuật về chế biến, bảo quản lâm sản. Tuy nhiên, việc chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất vẫn còn khoảng cách.
Người trồng rừng có giống tốt nhưng thiếu vốn dài hạn để phát triển rừng gỗ lớn; doanh nghiệp chế biến cần nguồn nguyên liệu đạt quy cách nhưng chưa có liên kết thu mua ổn định. Trong khi đó, chi phí đầu tư công nghệ, thiếu nhân lực chuyên môn và yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng cao cũng tạo thêm áp lực cho doanh nghiệp.
Tại hội thảo, các chuyên gia đề xuất tăng cường cơ chế doanh nghiệp đặt hàng nghiên cứu, gắn hoạt động khoa học với nhu cầu thực tế. Công nghệ quản trị, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo được đánh giá có khả năng cải thiện hiệu quả sản xuất đồ gỗ, song cần đi cùng chuẩn hóa dữ liệu và quy trình, kết nối thông tin giữa vùng nguyên liệu với nhà máy.
Theo TS. Nguyễn Quang Tin, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cơ sở dữ liệu ngành lâm nghiệp đã được xây dựng nhưng việc liên thông với địa phương và doanh nghiệp còn hạn chế. Nếu dữ liệu từ lô rừng đến nhà máy không được kết nối, hiệu quả đầu tư cho chuyển đổi số sẽ khó phát huy đầy đủ.
Định hướng giai đoạn 2026-2030, ngành lâm nghiệp cần tập trung nghiên cứu giống cây chống chịu sâu bệnh, kỹ thuật thâm canh rừng gỗ lớn, cơ giới hóa và chuyển giao công nghệ đồng bộ. Các địa phương cần rà soát vùng nguyên liệu, trong khi doanh nghiệp chủ động tham gia nghiên cứu, đầu tư công nghệ và kết nối dữ liệu.
Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cũng sẽ phối hợp rà soát các quy định liên quan đến hồ sơ lâm sản điện tử và truy xuất nguồn gốc. Đây là những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, minh bạch chuỗi cung ứng và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Việc chuyển từ khai thác lợi thế nguyên liệu sang nâng cao giá trị sản phẩm không chỉ giúp ngành gỗ tăng sức cạnh tranh mà còn tạo động lực phát triển kinh tế rừng theo hướng bền vững, gắn sản xuất với quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.




