Tăng phân cấp quản lý đất ngập nước, thúc đẩy vai trò cộng đồng trong bảo tồn
Văn bản hợp nhất số 27/VBHN-BNNMT do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành đã đưa ra nhiều điểm mới trong công tác bảo tồn và sử dụng bền vững vùng đất ngập nước.
Đáng chú ý, văn bản này làm rõ cơ chế phân cấp quản lý đối với các vùng đất ngập nước quan trọng, đồng thời mở rộng vai trò tham gia của cộng đồng trong bảo vệ và khai thác tài nguyên theo hướng bền vững.
Phân cấp rõ ràng các vùng đất ngập nước quan trọng
Trước đây, việc quản lý đất ngập nước chủ yếu dựa trên những quy định mang tính khung, chưa phân định rõ mức độ quan trọng giữa các khu vực có giá trị sinh thái khác nhau. Điều này phần nào khiến công tác bảo tồn và quản lý chưa thực sự hiệu quả.

Theo quy định tại Văn bản hợp nhất 27/VBHN-BNNMT, vùng đất ngập nước quan trọng được xác định là khu vực có diện tích từ 50 ha trở lên đối với đất ngập nước ven biển, ven đảo, hoặc từ 5 ha trở lên đối với đất ngập nước nội địa, đồng thời phải chứa các hệ sinh thái tự nhiên có giá trị đặc biệt.
Các khu vực này phải đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí như: có kiểu đất ngập nước đặc thù hoặc đại diện cho một vùng sinh thái; là nơi cư trú thường xuyên hoặc theo mùa của loài đặc hữu, nguy cấp, quý hiếm; là nơi sinh sống của ít nhất 1.000 cá thể chim nước, chim di cư; hoặc đóng vai trò quan trọng trong điều hòa nguồn nước, duy trì cân bằng sinh thái và có giá trị về cảnh quan, lịch sử, văn hóa.
Đáng chú ý, văn bản đã phân chia rõ vùng đất ngập nước quan trọng thành hai cấp: cấp quốc gia và cấp địa phương. Việc phân cấp này không chỉ mang tính hành chính mà còn dựa trên các tiêu chí về giá trị sinh thái, đa dạng sinh học, khả năng điều tiết nguồn nước và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm trình Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận các vùng đất ngập nước quan trọng cấp quốc gia. Trong khi đó, UBND cấp tỉnh được trao thẩm quyền công nhận các vùng đất ngập nước quan trọng cấp địa phương.
Cùng với quyền hạn mới, chính quyền cấp tỉnh cũng được giao nhiều trách nhiệm hơn, từ tổ chức điều tra, đánh giá hiện trạng, lập hồ sơ đề nghị công nhận đến việc huy động nguồn lực xã hội và triển khai các hoạt động quản lý, bảo tồn.
Mở rộng vai trò của cộng đồng trong quản lý
Một điểm mới đáng chú ý khác của văn bản là nhấn mạnh sự tham gia của cộng đồng dân cư trong quản lý và bảo tồn đất ngập nước. Theo đó, người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể tham gia vào quá trình quản lý tài nguyên.
Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cũng như cộng đồng địa phương tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên và các loài chim di cư tại vùng đất ngập nước.
Bên cạnh đó, cộng đồng còn được khuyến khích tham gia phục hồi các hệ sinh thái đất ngập nước bị suy thoái, giám sát các hoạt động khai thác tài nguyên, phát hiện và thông báo kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật. Các mô hình sinh kế bền vững, du lịch sinh thái và bảo tồn gắn với sinh kế cộng đồng cũng được thúc đẩy phát triển.
Các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có quyền tiếp cận thông tin, tài nguyên thiên nhiên liên quan đến vùng đất ngập nước theo quy định của pháp luật, đồng thời được hỗ trợ đào tạo, nâng cao nhận thức và kỹ năng tham gia vào các hoạt động bảo tồn.
Văn bản cũng khuyến khích triển khai các mô hình đồng quản lý với sự tham gia của cộng đồng, chính quyền và các bên liên quan nhằm bảo tồn và khai thác bền vững các vùng đất ngập nước quan trọng. Đồng thời, việc chia sẻ lợi ích một cách công bằng cho cộng đồng địa phương được xác định là yếu tố quan trọng trong quá trình quản lý.
Sự thay đổi trong cách tiếp cận từ quản lý theo hướng hạn chế, kiểm soát sang khuyến khích cộng đồng đồng hành trong bảo tồn và phát triển được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao ý thức của người dân, chuyển từ khai thác tận thu sang bảo vệ và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước.




