Môi trường - Tài nguyên

Dự thảo Luật BVMT: ĐTM, GPMT sẽ được quản lý trên nền tảng dữ liệu số

Minh An • 13/09/2026 19:02

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường đang được Chính phủ cho ý kiến để hoàn thiện trước khi trình Quốc hội. Một trong những điểm mới đáng chú ý là đề xuất chuyển mạnh phương thức quản lý môi trường từ hồ sơ giấy sang quản trị dựa trên dữ liệu số, trong đó dữ liệu về đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường và quan trắc môi trường sẽ được cập nhật trên nền tảng dữ liệu dùng chung.

Quản lý môi trường dựa trên dữ liệu

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường lần này nhằm kịp thời thể chế hóa các quan điểm, chủ trương mới về mô hình phát triển đất nước; đồng thời đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và tháo gỡ những khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện Luật.

Một định hướng quan trọng được đặt ra là đổi mới phương thức quản lý môi trường theo hướng hiện đại, chuyển dần từ quản lý dựa trên hồ sơ, giấy tờ sang quản trị dựa trên dữ liệu.

Dự thảo Luật bổ sung cơ sở pháp lý để hình thành và phát triển nền tảng dữ liệu về môi trường quốc gia. Đây sẽ là hệ thống dùng chung, có khả năng kết nối, liên thông từ Trung ương đến địa phương và tích hợp với Trung tâm dữ liệu quốc gia.

moi-truong.jpg
Ảnh minh họa

Theo đề xuất, dữ liệu về đánh giá tác động môi trường (ĐTM), giấy phép môi trường (GPMT), quan trắc tự động, liên tục và nhật ký chất thải sẽ được cập nhật trên nền tảng dữ liệu số.

Việc số hóa các dữ liệu môi trường được kỳ vọng tạo nền tảng cho phương thức quản lý mới, trong đó cơ quan quản lý có thể khai thác, phân tích dữ liệu để nhận diện nguy cơ và kiểm soát các vấn đề môi trường thay vì phụ thuộc chủ yếu vào hồ sơ do doanh nghiệp cung cấp.

Qua đó, quản lý nhà nước có thể từng bước giảm “tiền kiểm”, tăng “hậu kiểm”, đồng thời nâng cao khả năng phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đây cũng được xem là giải pháp góp phần giảm chi phí và thời gian tuân thủ cho doanh nghiệp.

Siết chất lượng tư vấn môi trường


Cùng với chuyển đổi số trong quản lý môi trường, dự thảo Luật cũng đặt vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn môi trường.

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, một số đơn vị tư vấn môi trường còn hạn chế về năng lực, thậm chí có tình trạng sao chép báo cáo ĐTM hoặc gian lận dữ liệu quan trắc nền. Những tồn tại này không chỉ làm giảm chất lượng đánh giá tác động môi trường mà còn có thể tạo rủi ro pháp lý cho chủ đầu tư, kéo dài thời gian thẩm định và ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án.

Trong khi đó, ĐTM được xác định là một trong những công cụ quan trọng nhằm nhận diện, dự báo và phòng ngừa tác động xấu đến môi trường ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án.

Do đó, việc nâng cao năng lực và tăng cường quản lý đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ tư vấn môi trường được đặt ra như một yêu cầu cần thiết. Tuy nhiên, dự thảo Luật định hướng việc quản lý hoạt động hành nghề phải tránh tạo thêm thủ tục hành chính, giấy phép con hoặc làm tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Thay đổi cách thực hiện EPR


Một nội dung đáng chú ý khác trong dự thảo Luật là cơ chế thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR).

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, để bảo đảm đúng bản chất của EPR, nhà sản xuất, nhập khẩu cần trực tiếp chịu trách nhiệm và tham gia thực chất vào hệ thống thu gom, tái chế sản phẩm, bao bì sau sử dụng.

Từ định hướng này, dự thảo Luật đề xuất không tiếp tục duy trì cơ chế nhà sản xuất, nhập khẩu thực hiện trách nhiệm tái chế thông qua việc đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.

Cơ chế đóng góp tài chính được đánh giá là giải pháp mang tính tạm thời, chuyển tiếp trong giai đoạn hệ thống thu gom, tái chế trong nước chưa phát triển đầy đủ. Về lâu dài, trách nhiệm của nhà sản xuất cần được thực hiện trực tiếp và gắn với sự phát triển của hệ sinh thái tái chế.

Dự thảo cũng đề xuất cho phép nhà sản xuất, nhập khẩu chuyển phần nghĩa vụ tái chế chưa hoàn thành sang các năm tiếp theo theo lộ trình do Chính phủ quy định. Đồng thời, vai trò của tổ chức đại diện trách nhiệm của nhà sản xuất (PRO) được xác lập rõ hơn trong việc liên kết các doanh nghiệp và tổ chức thực hiện nghĩa vụ tái chế.

Theo hướng này, doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ tham gia sâu hơn vào quá trình hình thành hệ thống thu gom, phân loại và tái chế tại Việt Nam, thay vì chủ yếu thực hiện nghĩa vụ thông qua đóng góp tài chính.

Quản lý xả thải theo khả năng chịu tải của nguồn nước


Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nước, dự thảo Luật cũng định hướng thay đổi phương thức kiểm soát hoạt động xả nước thải.

Theo đó, quản lý chất lượng nước sẽ được tiếp cận theo lưu vực và nguồn tiếp nhận, thay vì chủ yếu kiểm soát dựa trên nồng độ chất ô nhiễm trong nước thải.

Phương thức quản lý mới sẽ xem xét đồng thời lưu lượng, nồng độ và tải lượng chất ô nhiễm, gắn với khả năng chịu tải thực tế của nguồn nước.

Cách tiếp cận này được kỳ vọng giúp hoạt động kiểm soát xả thải sát hơn với điều kiện tự nhiên, đặc điểm của từng lưu vực và mục tiêu chất lượng nước. Đồng thời, cơ quan quản lý có thêm cơ sở để đưa ra yêu cầu kiểm soát phù hợp đối với từng nguồn tiếp nhận.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết sẽ tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các nguyên tắc kiểm soát xả thải theo hướng khoa học, linh hoạt; đồng thời xây dựng phương pháp xác định khả năng chịu tải và cơ chế quản lý phù hợp với từng giai đoạn phát triển.

Hướng tới thị trường carbon minh bạch


Xây dựng và vận hành thị trường carbon trong nước cũng là một nội dung được chú trọng trong quá trình sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thị trường carbon có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các cam kết của Việt Nam về ứng phó với biến đổi khí hậu, đồng thời tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ giảm phát thải và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Dự thảo Luật bổ sung các quy định mang tính nguyên tắc nhằm tạo cơ sở cho việc xây dựng thị trường carbon theo hướng minh bạch, thống nhất và từng bước tiệm cận thông lệ quốc tế.

Trong đó, yêu cầu về đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải khí nhà kính được đặt ở vị trí quan trọng nhằm bảo đảm độ tin cậy của dữ liệu phát thải và giảm phát thải.

Việc kiểm soát phát thải khí nhà kính cũng được định hướng thực hiện ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư dự án, trong suốt vòng đời sản phẩm và trong các hoạt động tiêu dùng của xã hội.

Cùng với đó, Việt Nam sẽ từng bước hoàn thiện hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm phát thải khí nhà kính; xây dựng tiêu chuẩn tín chỉ carbon và phương pháp tạo tín chỉ carbon trong nước theo hướng tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế.

Những thay đổi này nhằm tạo hành lang pháp lý để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, giảm phát thải, đồng thời bảo đảm lợi ích quốc gia trong quá trình tham gia thị trường carbon trong nước và quốc tế.

Nhìn tổng thể, các nội dung được đề xuất sửa đổi cho thấy định hướng chuyển mạnh chính sách bảo vệ môi trường từ quản lý bằng hồ sơ và thủ tục sang quản trị dựa trên dữ liệu, tăng cường hậu kiểm, quản lý theo khả năng chịu tải của môi trường và thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm môi trường một cách thực chất hơn.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Dự thảo Luật BVMT: ĐTM, GPMT sẽ được quản lý trên nền tảng dữ liệu số
(*) Bản quyền thuộc về Tạp chí điện tử Môi trường và Cuộc sống. Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.