Hà Tĩnh: Nâng cao chất lượng nguồn nước sạch gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới

Moitruong.net.vn

– Nước sạch là một trong những yếu tố quan trọng để duy trì sự tồn tại, phát triển của đời sống xã hội. Hiện nay, tỉ lệ người dân sống tại vùng nông thôn Hà Tĩnh được tiếp cận, sử dụng nguồn nước sạch ngày càng tăng.

Điều này đã cho thấy độ bao phủ của nguồn nước sạch ngày càng được mở rộng, làm giảm dần khoảng cách tiếp cận nguồn nước sạch giữa vùng nông thôn và đô thị. Tuy nhiên, bên cạnh đó nguồn nước sạch vùng nông thôn Hà Tĩnh đang trong tình trạng báo động khi mức độ ô nhiễm, khan hiếm nguồn nước sạch ngày càng gia tăng. Việc bảo đảm nguồn nước sạch gắn liền với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tại là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Hà Tĩnh.

Những vấn đề bất cập trong việc cung cấp nước sạch

Nguồn nước ở vùng nông thôn Hà Tĩnh bao gồm nước tài nguyên (nước sông, nước hồ, nguồn nước ngầm…) và nước dùng (phục vụ sinh hoạt, tiêu dùng). Tính đến nay toàn tỉnh Hà Tĩnh có 24 công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn tập trung với công suất thiết kế 23.892 m3/ngày đêm, công suất khai thác thực tế 14.540 m3/ngày đêm (đạt 60,81 %) và 13 hệ thống đấu nối với công trình cấp nước sinh hoạt đô thị; gần 240.000 công trình cấp nước nhỏ lẻ (giếng khoan, giếng đào, thiết bị lọc nước..). Tỷ lệ người dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh là 1.075.000/1.086.000 người, đạt 99,0%; số người dân sử dụng nước đạt quy chuẩn quốc gia (QCVN 02:2009/BYT) là 545.100/1.086.000 người, đạt 50,2%.

Năm 2020, Hà Tĩnh bố trí 180 tỷ đồng đầu tư xây dựng, nâng cấp 4 dự án cấp nước sạch nông thôn, góp phần hoàn thành tiêu chí nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn trong xây dựng nông thôn mới. Cụ thể là 118 tỷ đồng từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, 62 tỷ đồng còn lại là do người dân đóng góp và huy động từ nguồn vốn khác.

Trong thời gian qua, được sự quan tâm của Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương hỗ trợ kinh phí đầu tư một số nhà máy cấp nước tập trung có công suất lớn từ các nguồn vốn ngân sách TW, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), dự án DANIDA…thì hàng năm tỉnh đều bố trí nguồn vốn từ Chương trình Mục tiêu Quốc gia  xây dựng nông thôn mới, ngân sách các cấp và vốn đối ứng đóng góp người dân hưởng lợi để xây dựng mới, nâng cấp, sửa chữa một số công trình cấp nước sinh hoạt cho người dân vùng nông thôn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng nông thôn mới của tỉnh nhà.

Ảnh minh họa. Nguồn Internet

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn kết hợp ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất và đời sống của tỉnh nhà thời gian vừa qua đã, đang tạo ra những giá trị kinh tế lớn góp phần nâng cao đời sống vật chất của cư dân nông thôn. Tuy nhiên, cùng với những kết quả thiết thực đem lại từ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thì có nhiều mặt tác động tiêu cực gây ảnh hưởng lớn đến các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế – xã hội, đến an ninh nguồn nước sạch.

Đối với công tác khai thác công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn hiện nay các đơn vị quản lý thu chưa đủ chi, cơ chế quản lý giá nước sinh hoạt nông thôn tập trung lại do nhà nước định giá, việc bù giá nước còn chưa thực hiện được do ngân sách còn hạn chế, chính sách hỗ trợ tiếp nhận các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn tập trung theo tinh thần Quyết định số 131/2009/QĐ-TTg ngày 02/11/2009, song với điều kiện kinh tế của tỉnh gặp nhiều khó khăn, việc bố trí nguồn lực thực hiện chính sách rất khó thực hiện. Các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn được xây dựng từ trước năm 2010 bị xuống cấp hư hỏng, công nghệ đơn giản, mỗi công trình có những đặc điểm khó khăn khác nhau; đặc biệt một số công trình đã không còn hoạt động rất khó có thể khôi phục, sửa chữa hoặc nếu khôi phục, nâng cấp thì chi phí đầu tư lớn.

Đồng thời, các chính sách đảm bảo nguồn nước sạch còn nhiều vấn đề bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn, dàn trải và kém hiệu lực, hiệu quả kể cả từ chính sách đầu tư đến công tác quản lý, cấp và sử dụng nguồn nước sạch. Trên thực tế, Hà Tĩnh còn gặp nhiều bất lợi trong việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các vi phạm về bảo vệ chất lượng nguồn nước. do nhiều hộ dân chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của nguồn nước sạch đối với chất lượng cuộc sống và sức khỏe. Thu nhập bình quân đầu người khu vực dân cư nông thôn thấp; dân cư nông thôn sống phân tán; nhiều địa bàn dân cư nông thôn là một số vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, mật độ dân số thấp nên người dân vẫn còn có thói quen kết hợp sử dụng nhiều nguồn nước mà đa phần là sử dụng nước giếng, nước khe suối trong sinh hoạt để tiết kiệm chi phí.

Ngoài ra, ở một số địa phương có dự án cấp nước sạch do doanh nghiệp đầu tư, người dân phải chi trả phí đấu nối với số tiền lớn, nên nhiều hộ đã không mặn mà với sử dụng nước sạch. Nguồn tài nguyên nước bề mặt của Hà Tĩnh qua khảo sát có trữ lượng khá lớn song đó không phải là nguồn cung cấp nước sạch đảm bảo cho ăn uống, sinh hoạt vì nước sông, suối, ao hồ đều đang bị ô nhiễm nặng. Hiện nay đến cả nguồn nước ngầm nhiều nơi đang trở nên ô nhiễm và thiếu do bị khai thác tối đa dẫn đến hiện tượng khô hạn vào mùa hạn hạn.

Ảnh minh họa. Nguồn Internet

Nỗ lực đảm bảo nguồn nước sạch phục vụ người dân nông thôn

Vấn đề khan hiếm nguồn nước sạch có sự tác động to lớn đến đời sống của người dân nông thôn. Loài người làm khánh kiệt tài nguyên nước, gây nên hậu quả nặng nề với môi trường sống của chính mình. Khi nguồn nước sạch bị biến đổi thì sự đảm bảo cho đời sống người dân nông thôn Hà Tĩnh sẽ không giữ nguyên trạng thái cân bằng tự nhiên như cũ vì thế chỉ có thể tự điều chỉnh từ sự thay đổi thói quen, hành động của mỗi người.

Bảo vệ môi trường nước vùng nông thôn Hà Tĩnh hiện nay thực chất là tạo ra sự bảo đảm cân bằng giữa khảo sát, khai thác và duy trì, gìn giữ nguồn nước dự trữ. Nhu cầu sử dụng nước của con người ngày càng gia tăng còn lượng nước sạch sử dụng được thì ngày càng thu hẹp dần. Việc chủ động bảo vệ, phòng ngừa nguồn nước sạch là vấn đề cấp thiết đối với nông thôn Hà Tĩnh. Bởi lẽ đó, cần tập trung vào một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức về bảo vệ nguồn nước sạch. Sử dụng nhiều cách thức, con đường khác nhau để nhân dân nhận thức rõ sự nguy hại của việc thiếu hụt nguồn nước sạch. Trước hết là thông qua các hình thức truyền thông để tác động đến nhận thức cộng đồng dân cư qua đó dần thay đổi hành vi, hoạt động. Bên cạnh đó hình thức lồng ghép các biện pháp giáo dục, tuyên truyền cho người dân, các doanh nghiệp về an ninh nguồn nước sạch vùng nông thôn trong các chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường.

Hai là, chủ động, tích cực phòng ngừa, ứng phó với các tác nhân đe dọa đến an ninh nguồn nước sạch vùng nông thôn. Cần đầu tư xây dựng và mở rộng mạng lưới các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn theo định hướng tại Quy hoạch số 2866/QĐ-UBND ngày 01/10/2014 phê duyệt Quy hoạch cấp nước sinh hoạt nông thôn tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Và tiếp tục đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các dự án đang triển khai thi công.

Ba là, tăng cường kiểm tra, đánh giá và giám sát hoạt động của các đơn vị cấp nước; tổng kết kinh nghiệm các mô hình quản lý, đề xuất các biện pháp đảm bảo đơn vị cấp nước hoạt động hiệu quả, bền vững. Thực hiện tốt công tác rà soát đánh giá và hoạt động đấu thầu chuyển giao các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn tập trung không phát huy hiệu quả theo tinh thần Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 27/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Bốn là, cần tiếp tục rà soát, đề xuất kêu gọi xã hội hóa đầu tư các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn tập trung. Ban hành chính sách giai đoạn 2021-2025 hỗ trợ kinh phí lắp đặt thiết bị xử lý nước hộ gia đình cho người dân những vùng khó khăn về nguồn nước, nguồn nước bị ô nhiễm, không có quy hoạch xây dựng công trình cấp nước tập trung hoặc có quy hoạch nhưng chưa có dự án đầu tư.

Phan Thị An Phú