Việt Nam thiết lập khung pháp lý trao đổi tín chỉ carbon toàn cầu
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 112/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 19/5/2026, lần đầu tiên xây dựng khung pháp lý cho việc trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon của Việt Nam trong khuôn khổ Thỏa thuận Paris.
Nghị định 112/2026/NĐ-CP quy định cụ thể về việc trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon với các đối tác quốc tế, nhằm thực hiện các cam kết trong Thỏa thuận Paris thuộc Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu.
Theo quy định, hoạt động trao đổi quốc tế phải tuân thủ các nguyên tắc của Thỏa thuận Paris, đồng thời góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ giảm phát thải, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hỗ trợ phát triển nền kinh tế carbon thấp tại Việt Nam.
.jpg)
Về tỷ lệ chuyển giao, Nghị định được xây dựng theo hướng cân bằng giữa thu hút đầu tư và đảm bảo mục tiêu giảm phát thải quốc gia. Các hoạt động giảm phát thải được phân nhóm cụ thể, đi kèm với mức trần chuyển giao khác nhau.
Đối với nhóm công nghệ mới, chi phí cao, chưa hoặc ít được triển khai tại Việt Nam, tỷ lệ chuyển giao tối đa lên tới 90%. Nhóm này bao gồm các lĩnh vực như điện địa nhiệt, điện gió ngoài khơi, điện mặt trời độc lập công suất dưới 15MW, năng lượng từ sóng và thủy triều, sản xuất hydrogen xanh, amoniac xanh, cũng như khí sinh học metan.
Ngoài ra, các công nghệ như thu hồi, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS), lưu trữ carbon (CCS) trong sản xuất công nghiệp và vật liệu xây dựng; thu giữ CO₂ trực tiếp từ không khí; xử lý chất thải bằng phương pháp đốt có thu hồi năng lượng; tận dụng khí từ bãi chôn lấp; sản xuất nhiên liệu sinh học… cũng thuộc nhóm được áp dụng mức chuyển giao tối đa này.
Với các biện pháp giảm phát thải đã được triển khai tại Việt Nam nhưng vẫn cần hỗ trợ về tài chính và công nghệ, tỷ lệ chuyển giao tối đa được quy định ở mức 50%.
Cụ thể, mức 50% áp dụng cho các dự án như nhà máy nhiệt điện khí chu trình hỗn hợp sử dụng LNG nhập khẩu, điện sinh khối, các dự án năng lượng tái tạo và sử dụng năng lượng hiệu quả đã đăng ký theo cơ chế JCM hoặc chuyển đổi từ Cơ chế phát triển sạch (CDM) sang cơ chế theo Điều 6.4, cũng như các dự án điện gió gần bờ.
Trong trường hợp việc chuyển giao quốc tế không kèm theo điều chỉnh tương ứng, mức trần chuyển giao tối đa là 90% tổng lượng kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon được cấp trong một giai đoạn, áp dụng chung cho tất cả các chương trình và dự án.
Phần còn lại sau khi chuyển giao ra quốc tế có thể được sử dụng cho các hoạt động trao đổi trong nước.
Nghị định cũng quy định rõ cơ chế quản lý nguồn thu từ tín chỉ carbon. Đối với các dự án đầu tư công, việc chuyển nhượng phải do cơ quan chủ quản quyết định, đồng thời tham khảo ý kiến các bộ, ngành liên quan. Với các dự án hợp tác công – tư (PPP), nguồn thu từ tín chỉ carbon được tính vào doanh thu và có thể điều chỉnh trong phương án tài chính.
Việc ban hành Nghị định 112 được đánh giá là bước tiến quan trọng, tạo điều kiện để Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường carbon toàn cầu, đồng thời mở ra cơ hội tiếp cận nguồn tài chính xanh và công nghệ giảm phát thải cho doanh nghiệp trong thời gian tới.




