Cảnh báo suy giảm nguồn lợi sá sùng tại Quảng Ninh
Những bãi triều từng được xem là “kho báu” của biển Quảng Ninh đang đứng trước nguy cơ suy giảm nghiêm trọng khi sá sùng, loài hải sản có giá trị kinh tế cao, bị khai thác bằng các phương thức mang tính tận diệt.
Sá sùng phân bố tại nhiều bãi triều của Quảng Ninh, tập trung ở các khu vực như Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng. Đây là nơi nhiều hộ dân sinh sống bằng nghề khai thác truyền thống. Giá trị kinh tế lớn khiến loài hải sản này luôn trở thành mục tiêu của các nhóm khai thác trái phép. Hệ quả không chỉ là trữ lượng suy giảm mà còn gây tổn hại lâu dài đến hệ sinh thái đáy, nơi sá sùng sinh sống, sinh sản và góp phần làm sạch nền đáy biển.
Trước đây, việc khai thác chủ yếu được thực hiện thủ công bằng mai, thuổng, dựa vào kinh nghiệm nhận biết dấu vết trên bãi triều. Tuy nhiên thời gian gần đây xuất hiện tình trạng tàu thuyền sử dụng bơm áp lực kết hợp cào đáy, thậm chí dùng ống thổi sục trực tiếp xuống nền biển để dồn và bật sinh vật lên rồi thu gom.
Theo ghi nhận tại một số khu vực thuộc sông Mang, Quan Lạn và Minh Châu, các đội tàu hoạt động có tổ chức cả ngày lẫn đêm, di chuyển tới những bãi triều và vùng giáp ranh còn nguồn sá sùng. Cách làm này không chỉ tận thu con trưởng thành mà còn phá vỡ cấu trúc tầng đáy, khiến quần thể khó có khả năng phục hồi.

Cuối đêm ngày 4 tháng 2, tại khu vực hòn Cán Đao thuộc vùng biển Ngọc Vừng, lực lượng liên ngành phát hiện tàu cá QN 41219 đang khai thác thủy sản bằng hình thức dùng ống thổi sục xuống đáy biển. Qua kiểm tra, phương tiện được trang bị máy bơm công suất lớn cùng hệ thống ống nhựa dài, đường kính lớn phục vụ việc sục thổi để khai thác sá sùng. Chủ phương tiện là ông Phạm Văn Cơ, trú tại Đông Trung, đặc khu Vân Đồn.
Các tác động cơ học kiểu này làm đảo lộn cấu trúc trầm tích, phá hủy nơi cư trú và đường di chuyển tự nhiên của nhiều loài sinh vật đáy. Khi tầng đáy bị cày xới liên tục, hệ sinh thái ven đảo và bãi triều suy giảm khả năng tự tái tạo, kéo theo nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học, không chỉ riêng sá sùng.
Từ ngày 11 tháng 11 năm 2016, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định 3818 năm 2016 quy định danh mục phương pháp, loại nghề, ngư cụ bị cấm và thời gian cấm khai thác sá sùng. Văn bản nêu rõ các hành vi bị cấm quanh năm như tạo hang, đào rãnh theo đường di chuyển của sá sùng, bơm hút cát, sử dụng bơm áp lực để khai thác, phá hủy môi trường sống tự nhiên, cản trở trái phép đường di chuyển của các loài thủy sản, dùng âm thanh, ánh sáng, hóa chất dẫn dụ hoặc sử dụng ngư cụ ngoài mai và thuổng.
Quyết định này cũng quy định thời gian cấm tuyệt đối mọi hình thức khai thác sá sùng tự nhiên, kể cả phương thức thủ công truyền thống, từ ngày 1 tháng 6 đến hết ngày 31 tháng 7 hằng năm, trùng với thời kỳ sinh sản của loài.
Tuy nhiên, lợi nhuận lớn đang thúc đẩy tình trạng lách luật. Một số tàu lợi dụng thời điểm thủy triều xuống để hoạt động ven đảo vào ban đêm hoặc đăng ký dưới hình thức thu mua thủy sản nhưng hoán cải, lắp đặt thêm thiết bị bơm áp lực. Trường hợp tàu QN 41219 bị phát hiện cho thấy tình trạng đăng ký một đằng nhưng khai thác theo cách khác.
Trước sức ép từ cộng đồng và dấu hiệu tái diễn phức tạp, chính quyền địa phương đã tăng cường biện pháp xử lý. Mới đây, Ủy ban nhân dân đặc khu Vân Đồn tổ chức họp khẩn liên ngành nhằm bàn giải pháp chấn chỉnh tình trạng khai thác sá sùng trái phép tại Quan Lạn và Ngọc Vừng, với sự tham gia của công an, biên phòng, cảnh sát đường thủy cùng các lực lượng chuyên ngành biển, hải đảo và thủy sản.
Lãnh đạo đặc khu yêu cầu xử lý nghiêm, không để tình trạng kéo dài, đồng thời giao cơ quan chuyên môn tham mưu thành lập tổ công tác xử lý vi phạm theo quy định chống khai thác IUU, phân công rõ trách nhiệm, đặt mục tiêu giải quyết dứt điểm trước ngày 6 tháng 3 năm 2026. Song song với tăng cường tuần tra, kiểm soát, địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, phát huy vai trò của bí thư chi bộ và trưởng thôn tại Quan Lạn, Ngọc Vừng trong việc nắm bắt tình hình và kịp thời báo tin khi có dấu hiệu vi phạm.
Thực tế, Quảng Ninh đã triển khai nhiều giải pháp quản trị biển theo hướng bền vững như quy hoạch không gian biển, xây dựng khu bảo tồn, khu bảo vệ nguồn lợi và thả giống tái tạo. Cổng thông tin tỉnh từng giới thiệu mô hình đồng quản lý nguồn lợi sá sùng tại Minh Châu và Quan Lạn, cũng như mô hình bãi sá sùng tại khu vực Đại Bình thuộc xã Đầm Hà, góp phần tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho khoảng 300 hộ dân.
Tuy nhiên, cơ chế đồng quản lý chỉ phát huy hiệu quả khi có ranh giới và quy ước cộng đồng rõ ràng, cùng cơ chế giám sát chặt chẽ từ chính người dân và chế tài đủ mạnh đối với nhóm khai thác bằng máy móc quy mô lớn. Nếu nguồn lợi tiếp tục bị khai thác ồ ạt bởi tàu thuyền lạ, những người làm nghề truyền thống sẽ là nhóm chịu ảnh hưởng trước tiên do phụ thuộc trực tiếp vào trữ lượng tự nhiên và không có khả năng cạnh tranh bằng phương thức khai thác tận diệt.
Để tránh tình trạng cạn kiệt rồi mới tính đến bảo tồn, công tác kiểm tra và xử lý cần được duy trì thường xuyên thay vì theo từng đợt. Cần tăng mật độ tuần tra tại các bãi triều và vùng giáp ranh, kiểm soát chặt các tàu đăng ký thu mua nhưng hoán cải thiết bị, thiết lập điểm giám sát cộng đồng, công khai kết quả xử lý nhằm tăng tính răn đe, đồng thời hỗ trợ sinh kế thay thế cho nhóm lao động phụ thuộc vào khai thác ven bờ. Chỉ khi lợi ích ngắn hạn không còn lấn át mục tiêu dài hạn, sá sùng mới có cơ hội phục hồi và tiếp tục trở thành nguồn lợi quý nuôi sống cộng đồng theo hướng bền vững.




