Đề xuất cắt giảm hơn 90% đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường
Trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất cắt giảm trên 90% đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường và cấp giấy phép môi trường.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thiện với nhiều chính sách đột phá theo hướng cải cách thủ tục hành chính, phân cấp mạnh cho địa phương và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn. Đáng chú ý, dự thảo đề xuất cắt giảm trên 90% đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường và cấp giấy phép môi trường.
Cải cách mạnh thủ tục hành chính, giảm hơn một nửa thời gian và chi phí tuân thủ
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 với định hướng bám sát quan điểm chỉ quy định các vấn đề mang tính khung, nguyên tắc; các nội dung kỹ thuật, chi tiết thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương sẽ được giao quy định cụ thể.
Việc sửa đổi luật nhằm bảo đảm đồng bộ với Nghị quyết số 66/19/2026/NQ-CP của Chính phủ, đồng thời phù hợp với chỉ đạo của Bộ Chính trị về chuyển đổi tư duy quản lý từ “tiền kiểm”, yêu cầu an toàn tuyệt đối sang chủ động chấp nhận rủi ro có kiểm soát.
Theo ông Tăng Thế Cường, Cục trưởng Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), một trong những điểm mới nổi bật của dự thảo luật là cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương.
Theo đó, dự thảo đề xuất bãi bỏ 9 thủ tục hành chính, gồm 7 thủ tục thuộc thẩm quyền cấp bộ và 2 thủ tục thuộc cấp tỉnh; đồng thời đơn giản hóa thành phần, số lượng hồ sơ, giúp giảm hơn 52% thời gian giải quyết thủ tục và hơn 52% chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Nhiều thủ tục được bãi bỏ hoàn toàn như cấp lại giấy phép môi trường; cấp đổi Nhãn sinh thái Việt Nam; cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường; các quy định liên quan đến vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải. Những thay đổi này được kỳ vọng sẽ giảm đáng kể thời gian, chi phí và tăng tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp.
Đáng chú ý, tiêu chí phân loại dự án đầu tư được đơn giản hóa từ 4 nhóm xuống còn 3 nhóm (I, II, III). Qua đó, số đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và cấp giấy phép môi trường (GPMT) dự kiến giảm trên 90%.
Cùng với đó, dự thảo luật phân quyền tới 96% thẩm quyền thẩm định báo cáo ĐTM và 95% thẩm quyền cấp giấy phép môi trường cho địa phương so với trước năm 2025. Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ thực hiện đối với một số dự án đặc thù có nguy cơ tác động môi trường lớn, phạm vi ảnh hưởng liên tỉnh hoặc thuộc trường hợp phải thực hiện theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Dự thảo cũng bổ sung quy định giao cơ quan, người có thẩm quyền quyết định thực hiện cơ chế một cửa liên thông nhằm giải quyết đồng thời thủ tục môi trường với các thủ tục liên quan khác, góp phần rút ngắn thời gian triển khai dự án đầu tư.

Theo ông Tăng Thế Cường, các nội dung sửa đổi sẽ tạo bước chuyển quan trọng trong cải cách thủ tục hành chính về môi trường, giảm đáng kể chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát hiệu quả các dự án có nguy cơ tác động môi trường cao, qua đó góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới.
Mở rộng không gian phát triển kinh tế tuần hoàn
Bên cạnh cải cách thủ tục hành chính, dự thảo luật còn tập trung hoàn thiện chính sách quản lý chất thải theo hướng phù hợp với thực tiễn địa phương và thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn.
Đối với chất thải rắn sinh hoạt, dự thảo quy định linh hoạt hơn về nguyên tắc phân loại, giao UBND cấp tỉnh quyết định hình thức phân loại phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực hạ tầng của từng địa phương. Việc lựa chọn đơn vị thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải được thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu và ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.
Với chất thải rắn công nghiệp, dự thảo bổ sung nhiều quy định nhằm thúc đẩy hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải theo quan điểm coi chất thải là tài nguyên và là nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất. Đặc biệt, dự thảo bổ sung Điều 72a về quản lý vật liệu, sản phẩm tái chế, thu hồi từ chất thải; đồng thời giao Chính phủ quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ vật liệu tái chế bắt buộc trong sản phẩm và hàng hóa.
Đối với khí thải, dự thảo bổ sung quy định khuyến khích tuần hoàn, tái sử dụng khí thải làm nguyên liệu hoặc nhiên liệu cho các quá trình sản xuất khác nhằm thúc đẩy sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải.
Trách nhiệm của nhà sản xuất và nhà nhập khẩu cũng được điều chỉnh theo hướng linh hoạt và thực chất hơn. Thay vì chỉ đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường, các sản phẩm, bao bì không thể tái chế sẽ phải chịu thuế bảo vệ môi trường theo lộ trình. Đồng thời, các hình thức tái chế trực tiếp được đa dạng hóa nhằm khuyến khích hình thành các mạng lưới thu gom, tái chế chất thải chuyên nghiệp tại Việt Nam.
Một điểm mới quan trọng khác là toàn bộ hoạt động quản lý chất thải sẽ được số hóa. Các cơ sở phát sinh chất thải có trách nhiệm cập nhật dữ liệu điện tử vào hệ thống thông tin quốc gia để phục vụ truy xuất nguồn gốc. Hệ thống dữ liệu sẽ được liên thông từ trung ương đến địa phương trên nền tảng số theo thời gian thực, kết hợp với hệ thống đăng ký phát thải hiện đại.
Theo đánh giá của cơ quan soạn thảo, những chính sách mới sẽ tạo ưu đãi đáng kể cho các dự án đáp ứng tiêu chí kinh tế tuần hoàn, mở ra không gian phát triển mới cho ngành công nghiệp môi trường và thị trường nguyên liệu thứ cấp tại Việt Nam.
Tăng cường quản lý môi trường bằng dữ liệu và công nghệ số
Dự thảo luật cũng hướng tới hoàn thiện các công cụ quản lý chất lượng môi trường theo hướng hiện đại, dựa trên dữ liệu, dự báo và quản trị rủi ro.
Theo đó, trách nhiệm của UBND cấp tỉnh được bổ sung và làm rõ hơn trong trường hợp để xảy ra ô nhiễm môi trường trên địa bàn, phù hợp với chủ trương phân cấp mạnh theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.
Đối với môi trường nước mặt, quy định về áp dụng khả năng chịu tải của nguồn nước được sửa đổi theo hướng linh hoạt hơn. Chính phủ sẽ quy định chi tiết việc xả nước thải trực tiếp trong trường hợp nguồn nước vẫn còn khả năng tiếp nhận đối với một hoặc một số thông số bắt buộc, qua đó tạo điều kiện cho các dự án đầu tư và đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường không khí, công tác quản lý được chuyển từ bị động ứng phó sang chủ động phòng ngừa thông qua việc bổ sung quy định về dự báo ô nhiễm, kiểm kê khí thải và bụi. Đặc biệt, hoạt động giao thông sẽ được kiểm soát chặt chẽ hơn thông qua thiết bị giám sát phát thải trên phương tiện. Các địa phương cũng được trao quyền áp dụng các biện pháp điều tiết, hạn chế phương tiện sử dụng nhiên liệu hóa thạch tại những khu vực và thời điểm nhạy cảm với ô nhiễm.
Đối với môi trường đất, các quy định mới phân định rõ giữa hoạt động điều tra đất phục vụ quản lý nhà nước với việc đánh giá các điểm nóng ô nhiễm, qua đó tránh chồng chéo và tăng cường phân cấp cho địa phương.
Để bảo đảm hiệu quả quản lý, hệ thống quan trắc môi trường cũng được nâng cấp theo hướng hiện đại hơn. Dự thảo luật bãi bỏ một số quy chuẩn không còn phù hợp về ánh sáng và bức xạ, đồng thời khuyến khích ứng dụng công nghệ mới trong quan trắc môi trường.
Đặc biệt, trách nhiệm bảo đảm tính chính xác, toàn vẹn của dữ liệu quan trắc được quy định rõ đối với doanh nghiệp. Dự thảo nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp hoặc làm sai lệch kết quả quan trắc. Trong tương lai, công tác quản lý môi trường sẽ được thực hiện trên nền tảng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI), góp phần nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm và giảm thiểu tối đa các sự cố môi trường.




