Luật Tài nguyên nước: Gỡ điểm nghẽn trong thực thi
Luật Tài nguyên nước năm 2023 đã tạo cơ sở pháp lý cho quản trị nguồn nước theo lưu vực sông, điều hòa và phân phối nước giữa các ngành, địa phương. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các kịch bản nguồn nước thành quyết định điều hành cụ thể, trên nền tảng dữ liệu đồng bộ và phối hợp liên ngành.
Từ dự báo nguồn nước đến chủ động điều hành
Sáng 20/10, tại Hà Nội, đã diễn ra Hội thảo “Đưa Luật Tài nguyên nước vào cuộc sống: Chủ động nguồn nước, điều hòa và vận hành hiệu quả”.
Hội thảo tập trung đánh giá những khó khăn, vướng mắc trong quản lý, khai thác, điều hòa và phân phối tài nguyên nước; đồng thời đề xuất giải pháp đổi mới phương thức quản trị, ứng dụng khoa học, công nghệ trong vận hành hồ chứa, nâng cao khả năng chủ động ứng phó với các nguy cơ mất an ninh nguồn nước.

Luật Tài nguyên nước năm 2023, có hiệu lực từ ngày 1/7/2024, đánh dấu bước chuyển trong tư duy quản lý tài nguyên nước, hướng tới quản trị tổng hợp theo lưu vực sông, điều hòa, phân phối nguồn nước giữa các ngành và địa phương, chủ động phòng ngừa nguy cơ thiếu nước. Tuy nhiên, để các quy định của luật thực sự đi vào cuộc sống, yêu cầu đặt ra là phải cụ thể hóa chính sách thành những quyết định điều hành kịp thời, có căn cứ khoa học và xác định rõ trách nhiệm thực hiện.
Theo Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, khoảng 60% lượng nước của Việt Nam có nguồn gốc từ ngoài lãnh thổ; riêng lưu vực sông Cửu Long, tỷ lệ này gần 95%. Trong khi đó, nước mặt chiếm khoảng 96,5% tổng lượng nước khai thác, còn nông nghiệp sử dụng khoảng 86% tổng lượng nước của các ngành.
Những số liệu này cho thấy an ninh nguồn nước của Việt Nam phụ thuộc đáng kể vào nguồn nước xuyên biên giới, khả năng tích trữ, điều tiết và phân phối nước, cũng như hiệu quả sử dụng nước của từng ngành. Một lưu vực có tổng lượng nước tương đối dồi dào vẫn có thể xảy ra thiếu nước cục bộ nếu nguồn nước phân bố không đồng đều theo thời gian, không gian hoặc việc vận hành các công trình thiếu phối hợp.
Vì vậy, quản lý tài nguyên nước không thể tiếp tục chủ yếu dựa trên phạm vi ngành, địa giới hành chính hay hoạt động riêng lẻ của từng công trình. Thay vào đó, cần tăng cường điều hành thống nhất theo lưu vực sông, kết nối thông tin giữa các hệ thống khai thác, sử dụng nước và chuyển từ ứng phó khi hạn hán xảy ra sang chủ động dự báo, xây dựng phương án phân bổ nước từ sớm.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, kịch bản nguồn nước cần vượt ra khỏi chức năng dự báo để trở thành căn cứ trực tiếp phục vụ điều hành, phân phối nước và xây dựng kế hoạch cấp nước của các hệ thống thủy lợi.
Thực tiễn mùa cạn 2025-2026 trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình cho thấy vai trò của công cụ này. Kịch bản nguồn nước đưa ra khuyến nghị lượng nước phục vụ đổ ải vụ Đông Xuân năm 2026 khoảng 3,2-3,7 tỷ m³, làm cơ sở phối hợp lịch xả của các hồ chứa lớn với lịch lấy nước của hệ thống thủy lợi vùng Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ.
Tuy nhiên, dự báo chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được chuyển hóa thành kế hoạch vận hành hồ chứa, lịch lấy nước, phương án sản xuất và giải pháp ứng phó thiếu nước tại từng địa phương. Chất lượng của công tác dự báo vì thế không chỉ được đánh giá bằng độ chính xác của các kịch bản, mà còn bằng khả năng hỗ trợ cơ quan quản lý đưa ra quyết định đúng thời điểm, đáp ứng nhu cầu thực tế và hạn chế thiệt hại.
Trước nguy cơ El Niño trong giai đoạn 2026-2027 và khả năng thiếu hụt nguồn nước tại nhiều lưu vực, việc cập nhật thường xuyên kịch bản nguồn nước, xác định thứ tự ưu tiên sử dụng nước, bảo đảm dòng chảy tối thiểu và xây dựng phương án cấp nước theo từng cấp độ rủi ro có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Khi nguồn nước suy giảm, việc phân bổ cần dựa trên mức độ thiết yếu của các nhu cầu sử dụng, khả năng đáp ứng của từng khu vực và lợi ích chung của toàn lưu vực. Trong đó, bảo đảm nước sinh hoạt cho người dân, duy trì các chức năng thiết yếu của hệ sinh thái và giảm thiểu thiệt hại do hạn hán phải được tính đến trong quá trình xây dựng phương án điều hành.
Hiện đại hóa vận hành hồ chứa, tăng hiệu quả sử dụng nước
Bên cạnh nâng cao chất lượng dự báo, hiện đại hóa vận hành hồ chứa là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả thực thi Luật Tài nguyên nước. Các hồ chứa ngày càng phải đáp ứng đồng thời nhiều mục tiêu, từ cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu, phát điện đến phòng, chống lũ và duy trì dòng chảy môi trường. Việc cân đối các mục tiêu này đòi hỏi dữ liệu đầy đủ, quy trình vận hành linh hoạt và cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các đơn vị liên quan.
Theo Giáo sư Nguyễn Quốc Dũng, Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, tỷ lệ hồ chứa được trang bị thiết bị quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng tự động mới đạt khoảng 17%. Dữ liệu giữa các ngành và các chủ hồ còn thiếu đồng bộ; nhiều quy trình vận hành vẫn dựa trên biểu đồ điều phối tĩnh, chưa được hỗ trợ đầy đủ bởi các công cụ công nghệ hiện đại.
Thực trạng này cho thấy khoảng cách giữa yêu cầu quản trị tài nguyên nước hiện đại và năng lực vận hành tại nhiều công trình. Khi dữ liệu không được cập nhật, chia sẻ kịp thời, cơ quan điều hành khó nắm bắt đầy đủ diễn biến nguồn nước trên toàn lưu vực. Trong khi đó, quy trình vận hành thiếu linh hoạt sẽ hạn chế khả năng điều chỉnh trước những biến động về mưa, lũ, hạn hán và nhu cầu sử dụng nước.
Để khắc phục những hạn chế trên, Giáo sư Nguyễn Quốc Dũng đề xuất đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ bản sao số, hệ thống cảm biến và dữ liệu thời gian thực trong giám sát, dự báo và điều hành hồ chứa. Đồng thời, cần xây dựng nền tảng dữ liệu dùng chung theo lưu vực sông, chuẩn hóa quy chuẩn kỹ thuật, hoàn thiện cơ chế chia sẻ dữ liệu và định mức kinh tế - kỹ thuật đối với các dịch vụ công nghệ phục vụ vận hành hồ chứa.
Dù vậy, đầu tư công nghệ không đồng nghĩa với việc tự động giải quyết các bất cập trong quản lý. Thiết bị quan trắc chỉ phát huy giá trị khi dữ liệu được cập nhật đầy đủ, có khả năng kết nối và được sử dụng trực tiếp trong quá trình ra quyết định. Cùng với đó, cần xác định rõ trách nhiệm cung cấp, chia sẻ thông tin của từng đơn vị, quy định thời hạn thực hiện và cơ chế xử lý khi không đáp ứng yêu cầu.
Do đó, hiện đại hóa vận hành hồ chứa cần được triển khai đồng bộ với hoàn thiện thể chế, quy trình phối hợp và nâng cao năng lực của đội ngũ quản lý, vận hành. Đây là điều kiện để các giải pháp công nghệ chuyển từ ứng dụng đơn lẻ sang hỗ trợ điều hành thống nhất, hiệu quả trên phạm vi toàn lưu vực.
Tại phiên tọa đàm, các nhà khoa học và chuyên gia thủy lợi tiếp tục thảo luận về việc phân bổ nguồn nước giữa các nhu cầu sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện và bảo vệ hệ sinh thái. Trong điều kiện nguồn nước có giới hạn, việc đáp ứng nhu cầu của từng ngành phải đặt trong mối quan hệ với lợi ích chung, tránh tình trạng khai thác thiếu cân đối hoặc làm gia tăng rủi ro cho các khu vực khác trong cùng lưu vực.
Để giải quyết bài toán này, công tác phân bổ nước cần dựa trên dữ liệu tin cậy, dự báo sát thực tế và thứ tự ưu tiên rõ ràng. Đồng thời, phải có cơ chế phối hợp đủ hiệu lực để xử lý kịp thời các tình huống thiếu nước, thiên tai hoặc xung đột trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước.
Từ những vấn đề được đặt ra tại hội thảo, yêu cầu cấp thiết là tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên nước; gắn kịch bản nguồn nước với quy trình vận hành hồ chứa và kế hoạch cấp nước; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và ứng dụng khoa học, công nghệ. Cùng với đó, trách nhiệm của các cơ quan quản lý, đơn vị vận hành và tổ chức khai thác, sử dụng nước cần được phân định rõ, gắn với cơ chế kiểm tra và trách nhiệm giải trình.
Đưa Luật Tài nguyên nước vào cuộc sống cần được đánh giá bằng những chuyển biến cụ thể: nguy cơ thiếu nước được cảnh báo sớm hơn, nguồn nước được phân bổ hợp lý hơn, các công trình vận hành an toàn, hiệu quả hơn và nhu cầu thiết yếu của người dân được bảo đảm tốt hơn.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khó lường, bảo đảm an ninh nguồn nước không chỉ phụ thuộc vào việc xây dựng thêm công trình, mà còn nằm ở năng lực quản trị và sử dụng hiệu quả nguồn nước hiện có. Khi dữ liệu được kết nối, dự báo gắn với điều hành, quy trình vận hành linh hoạt và trách nhiệm được xác định rõ, các quy định của Luật Tài nguyên nước mới có thể chuyển hóa thành năng lực chủ động, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển bền vững.




