Bảo vệ môi trường

Quản lý chất thải chăn nuôi: Chuyển từ xử lý ô nhiễm sang kinh tế tuần hoàn

Hải Đăng • 07/11/2026 19:00

Sự phát triển của các mô hình chăn nuôi tập trung, quy mô lớn và ứng dụng công nghệ cao đang mở ra cơ hội nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, đi cùng với quá trình này là áp lực ngày càng lớn đối với môi trường, đặc biệt trong quản lý nước thải, chất thải rắn và kiểm soát mùi.

Từ xử lý nước thải sang tái sử dụng hiệu quả

Tại Diễn đàn “Phát triển chăn nuôi an toàn, bền vững gắn với bảo vệ môi trường khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên” diễn ra ngày 6/11, ông Nguyễn Thành Yên, Phó trưởng phòng Chính sách - Pháp chế (Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đã chỉ ra những vấn đề cần quan tâm trong quản lý nước thải chăn nuôi, nhất là việc xây dựng và áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với từng mục đích sử dụng.

Theo ông Yên, cách tiếp cận trong quản lý nước thải chăn nuôi đang từng bước thay đổi. Thay vì chỉ tập trung xử lý nước thải trước khi xả ra môi trường, cần hướng đến tái sử dụng nguồn nước sau xử lý cho các hoạt động phù hợp như tưới cây, rửa chuồng và phục vụ sản xuất.

capture(5).jpg
Ảnh minh họa

Tuy nhiên, quá trình này vẫn còn những khoảng trống về quy định. Hiện chưa có hướng dẫn cụ thể xác định lượng nước thải phù hợp với từng diện tích cây trồng. Vì vậy, cần sớm làm rõ yêu cầu quản lý, trách nhiệm của các cơ sở chăn nuôi và hướng dẫn kỹ thuật để hoạt động tái sử dụng nước thải không trở thành nguồn gây ô nhiễm thứ cấp cho đất và nguồn nước.

Thực tế, nước thải chăn nuôi thường chứa hàm lượng chất hữu cơ cao, đòi hỏi phải áp dụng quy trình xử lý kết hợp nhiều công nghệ. Nếu được xử lý đạt yêu cầu và sử dụng đúng mục đích, lượng nước thải phải xả ra môi trường tiếp nhận có thể giảm từ 50-70%.

Giải pháp này không chỉ góp phần hạn chế nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mà còn giúp tiết kiệm tài nguyên nước, giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên trong hoạt động chăn nuôi.

Từ thực tiễn trên, ông Nguyễn Thành Yên đề xuất Cục Chăn nuôi và Thú y nghiên cứu xây dựng hướng dẫn, quy định kỹ thuật về sử dụng nước thải chăn nuôi trong hoạt động tưới tiêu. Việc này nhằm tránh tình trạng sử dụng nước thải thiếu kiểm soát, tưới tràn lan, gây ảnh hưởng đến chất lượng đất và môi trường xung quanh.

Bên cạnh đó, các quy định về môi trường cần được áp dụng phù hợp với từng loại hình, quy mô và mục đích sử dụng nước thải. Cần phân biệt rõ giữa trường hợp xả nước thải ra môi trường và trường hợp tái sử dụng nước thải sau xử lý, tránh áp dụng chung một yêu cầu thủ tục cho tất cả các cơ sở chăn nuôi.

Đại diện Cục Môi trường cũng đề xuất sáu nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả quản lý môi trường trong lĩnh vực này. Trong đó, cần rà soát những quy định còn chồng chéo, khó triển khai; cập nhật quy chuẩn kỹ thuật quốc gia theo hướng phù hợp với công nghệ chăn nuôi hiện đại; kiểm soát chặt chẽ vị trí, mật độ và hạ tầng các khu vực chăn nuôi.

Đồng thời, cần tăng cường quản lý các dòng chất thải, nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát sau cấp phép; thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, củng cố năng lực quản lý môi trường tại địa phương và khuyến khích đổi mới công nghệ xử lý chất thải.

Đáng chú ý, hoạt động kiểm tra cần được triển khai dựa trên mức độ rủi ro môi trường. Các trang trại quy mô lớn, khu vực nhạy cảm về môi trường, địa bàn có mật độ chăn nuôi cao hoặc những cơ sở có dấu hiệu vi phạm cần được ưu tiên giám sát.

Cùng với giải pháp quản lý, việc ứng dụng công nghệ trong xử lý chất thải cũng cần được đẩy mạnh. Các mô hình chuồng kín, hệ thống ép tách phân tự động, công nghệ xử lý mùi và ứng dụng vi sinh được khuyến khích triển khai nhằm hạn chế phát sinh ô nhiễm ngay trong quá trình sản xuất.

Đặc biệt, việc tăng cường liên kết giữa các trang trại, doanh nghiệp sản xuất phân bón và vùng trồng trọt sẽ tạo điều kiện tận dụng chất thải rắn, nước thải sau xử lý làm nguyên liệu sản xuất phân bón, năng lượng. Đây là hướng đi quan trọng nhằm giảm lượng chất thải phải thải bỏ, đồng thời gia tăng giá trị kinh tế từ các phụ phẩm chăn nuôi.

Quy hoạch vùng chăn nuôi gắn với bảo vệ môi trường

Từ góc độ quản lý ngành, ông Nguyễn Trọng Tuyển, đại diện Cục Chăn nuôi và Thú y, cho biết Việt Nam hiện có quy mô đàn lợn thuộc nhóm 5 quốc gia dẫn đầu thế giới, đàn gia cầm đứng thứ 6 và sản lượng sữa đứng thứ 3 tại Đông Nam Á.

Năng lực sản xuất trong nước hiện đáp ứng khoảng 85% nhu cầu tiêu thụ thịt, với mức bình quân 71,6 kg/người/năm. Sản lượng trứng gia cầm cũng đã vượt nhu cầu tiêu thụ trong nước, đạt khoảng 21,1 tỷ quả mỗi năm.

Cùng với sự gia tăng về quy mô sản xuất, ngành chăn nuôi đang có sự chuyển dịch đáng kể về không gian và phương thức tổ chức. Hoạt động chăn nuôi từng bước dịch chuyển từ các vùng đồng bằng có mật độ chăn nuôi cao lên khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, đồng thời chuyển từ mô hình nhỏ lẻ sang các trang trại tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ hiện đại.

Trong cơ cấu vật nuôi, sáu tỉnh thuộc khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên hiện chiếm 19,03% tổng đàn lợn, 13,09% đàn gia cầm, 11,68% đàn trâu và 37,24% đàn bò của cả nước.

Trong đó, Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi tập trung nhờ quỹ đất rộng, khí hậu phù hợp, nguồn nguyên liệu thức ăn dồi dào và khả năng bố trí các cơ sở chăn nuôi cách xa khu vực đô thị đông dân.

Sự tham gia của các doanh nghiệp lớn cũng góp phần thúc đẩy hình thành những chuỗi sản xuất hiện đại. Tuy nhiên, quá trình mở rộng chăn nuôi tại khu vực này đang đặt ra không ít thách thức về môi trường, nhất là tình trạng hạn hán kéo dài, thiếu nước phục vụ sản xuất, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm do chất thải và nguy cơ dịch bệnh lây lan giữa các địa phương.

Trước những yêu cầu đó, ông Nguyễn Trọng Tuyển nhấn mạnh sự cần thiết phải triển khai đồng bộ sáu nhóm giải pháp để phát triển ngành chăn nuôi theo hướng an toàn và bền vững.

Cụ thể, cần quy hoạch các vùng chăn nuôi tập trung gắn với yêu cầu an toàn dịch bệnh theo tiêu chuẩn của Tổ chức Thú y thế giới (WOAH); phát triển chuỗi sản xuất khép kín từ thức ăn, trang trại đến chế biến, giết mổ và bảo quản lạnh.

Cùng với đó, cần khai thác lợi thế của từng địa phương trong phát triển các loại vật nuôi như bò thịt, bò sữa, lợn và gia cầm; thúc đẩy mô hình chăn nuôi tiết kiệm nước, tuần hoàn chất thải; cấp mã định danh cho cơ sở chăn nuôi, số hóa dữ liệu và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Việc xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường xuất khẩu cũng là những nhiệm vụ cần được quan tâm.

Đặc biệt, đại diện Cục Chăn nuôi và Thú y lưu ý cần tăng cường tận dụng phụ phẩm chăn nuôi để sản xuất phân bón, khí sinh học và tái sử dụng nước sau xử lý theo đúng quy chuẩn. Việc ứng dụng công nghệ số trong quan trắc môi trường, quản lý cơ sở chăn nuôi sẽ góp phần hình thành chuỗi sản xuất khép kín, minh bạch và đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Quản lý chất thải chăn nuôi: Chuyển từ xử lý ô nhiễm sang kinh tế tuần hoàn
(*) Bản quyền thuộc về Tạp chí điện tử Môi trường và Cuộc sống. Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.