Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước, tạo môi trường kinh doanh công bằng trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường
Thảo luận về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, đa số đại biểu thống nhất cao với những hiệu chỉnh tại dự thảo nhằm tạo môi trường kinh doanh công bằng, tăng cường vai trò quản lý của nhà nước với hai lĩnh vực này.
Tiếp tục chương trình tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu tại Tổ 13 gồm đoàn Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh An Giang và đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị đã tiến hành thảo luận về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Góp ý vào Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, đại biểu Trần Vũ Khiêm, đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị nêu quan điểm, dù nông nghiệp và môi trường là 2 trụ cột kinh tế nhưng thực tế vẫn tồn tại không ít điểm nghẽn đang kìm hãm sức sản xuất.
Theo đại biểu Trần Vũ Khiêm, dự án có 3 vấn đề nổi cộm. Cụ thể:
Thứ nhất là thủ tục hành chính rườm rà, chồng chéo, các điều kiện kinh doanh vật tư nông nghiệp, giống cây trồng, thức ăn chăn nuôi, kiểm dịch thú y, cấp giấy phép khai thác khoáng sản, tài nguyên nước còn nặng về cơ chế xin cho và tiền kiểm. Việc đăng ký gia hạn giấy phép mất nhiều thời gian, chi phí, làm mất đi cơ hội kinh doanh và tăng giá thành sản xuất đầu vào của người nông dân và doanh nghiệp.
Thứ hai là phân quyền chưa đồng bộ, địa phương được giao trách nhiệm phát triển kinh tế - xã hội nhưng thiếu công cụ, tiêu chí, tiêu chuẩn rõ ràng.
Thứ ba là tình trạng lãng phí dư địa và tài nguyên, nguồn lực tài nguyên bị đóng băng do vướng mắc cơ chế.
Theo đại biểu Trần Vũ Khiêm, hàng loạt tài nguyên quan trọng như khoáng sản, tài nguyên nước, đất nông nghiệp, không gian biển chưa được giải phóng tối đa do thủ tục cấp phép kéo dài. Đại biểu nhấn mạnh, việc sửa đổi lần này phải thực sự loại bỏ các quy định chồng chéo, cắt giảm triệt để thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, giao quyền chủ động cho địa phương đi đôi với kiểm soát quyền lực, nhằm giải phóng sức sản xuất và khơi thông mọi nguồn lực.

Qua nghiên cứu, đại biểu nhận thấy, mặc dù dự thảo Luật đã phân quyền, giải quyết 21 thủ tục hành chính về cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tuy nhiên nhiều quyết định vẫn duy trì cơ chế địa phương cấp phép nhưng phải gửi văn bản báo cáo về Bộ để theo dõi. Đại biểu đề nghị phân quyền phải đi đôi với chuẩn hóa quy trình và chuyển đổi số. Việc theo dõi, quản lý của Bộ, ngành trung ương phải thực hiện tự động qua kết nối chia sẻ dữ liệu dùng chung, chấm dứt hoàn toàn việc yêu cầu địa phương, doanh nghiệp gửi xác nhận bằng văn bản giấy. Bên cạnh đó, Trung ương cần ban hành quy chế quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và tăng cường hậu kiểm, xác định hậu kiểm là một phương thức quản trị xuyên suốt dựa trên quản lý rủi ro và trách nhiệm giải trình của các chủ thể.
Mặt khác, dự thảo Luật lại phân quyền mạnh một số thủ tục hành chính phức tạp liên quan đến địa chất khoáng sản cho cấp tỉnh. Trong khi đó, năng lực chuyên môn, tài liệu nền và hạ tầng công nghệ thông tin của các địa phương hiện nay còn nhiều hạn chế, chưa có biện pháp hỗ trợ về kỹ thuật, đào tạo và lộ trình chuyển giao hồ sơ từ trung ương, dễ dẫn đến tình trạng giao quyền vượt quá khả năng của địa phương. Đại biểu cho rằng đây lại là những lĩnh vực có giá trị kinh tế lớn, nhạy cảm, dự thảo chưa làm rõ các tiêu chí cụ thể để ngăn chặn việc lạm dụng quyền lực tại địa phương. Vì vậy, cơ chế hậu kiểm, thanh tra trách nhiệm cá nhân là chưa phù hợp với yêu cầu tăng cường kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ.
Quy định chặt chẽ việc khai thác khoáng sản
Liên quan đến giải phóng tài nguyên biển và khoáng sản, một số đại biểu cho rằng việc khai thác thác khoáng sản khu vực biển ngoài ranh giới quản lý hành chính của tỉnh và vùng biển chưa xác định ranh giới hiện đang gặp khó do chưa rõ thẩm quyền. Thời gian qua, cử tri nhiều nơi rất bức xúc khi các dự án cao tốc, cảng biển thiếu vật liệu đắp nền nghiêm trọng, trong khi nguồn cát biển lại chưa được cấp phép khai thác thương mại vì vướng thủ tục.
Các đại biểu đề nghị Dự thảo lần này cần quy định rõ nguyên tắc phân cấp giấy phép khoáng sản biển cho địa phương ven biển gần nhất có đủ năng lực quản lý và hạ tầng tiếp nhận. Trong thời gian chờ hoàn thiện ranh giới biển, đại biểu đề nghị giao Chính phủ quy định thủ tục rút gọn đối với việc khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, phục vụ công trình trọng điểm quốc gia, tránh lãng phí nguồn lực của đất nước. Đối với khoáng sản nằm trên địa bàn từ hai tỉnh trở lên, nếu chỉ giao tỉnh có diện tích lớn nhất chủ trì lấy ý kiến, thì cần quy định tính ràng buộc, tránh xảy ra tình trạng đùn đẩy trách nhiệm. Cùng với đó, cần bổ sung quy định kiểm soát chặt chẽ khối lượng, địa chỉ sử dụng khoáng sản và trách nhiệm phục hồi môi trường, đóng cửa mỏ, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng lợi dụng cơ chế đặc thù để khai thác thương mại trái phép, gây thất thoát tài nguyên.
Liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, đại biểu Phạm Huỳnh Thanh Vân, đoàn ĐBQH tỉnh An Giang dẫn chiếu, tại Điều 36, khoản 4, Luật Trồng trọt có quy định: Mỗi tổ chức, cá nhân chỉ được đứng tên đăng ký công nhận một tên phân bón cho mỗi công thức thành phần, hàm lượng dinh dưỡng phân bón. Theo đó, doanh nghiệp khác muốn đăng ký theo cùng công thức thì phải đăng ký khảo nghiệm lại.
Đại biểu đề nghị dự thảo nên quy định chỉ yêu cầu khảo nghiệm đối với những sản phẩm mới, hoặc sản phẩm chứa chất phụ gia có thể ảnh hưởng đến môi trường. Ngoài ra, cần có cơ chế ưu tiên cho những doanh nghiệp tiên phong, những doanh nghiệp đăng ký thành công một công thức phân bón mới. Đối với những doanh nghiệp đăng ký sau mà có cùng công thức dinh dưỡng, chúng ta cho phép thừa nhận kết quả chéo để lưu hành. Đại biểu cũng cho rằng nên chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, trao quyền cho các doanh nghiệp tự công bố chất lượng, tự chịu trách nhiệm với những sản phẩm của mình. Cùng với đó có thêm chế tài đủ mạnh để các doanh nghiệp không muốn và cũng không thể làm sai.
Theo các đại biểu, nông nghiệp Việt Nam đang hướng tới giá trị gia tăng cao và phát triển xanh, tuy nhiên chi phí đầu vào như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi, luôn ở mức cao, một phần do chi phí tuân thủ thủ tục hành chính kéo dài. Đại biểu ủng hộ quy định kéo dài thời hạn giấy phép đăng ký thuốc bảo vệ thực vật từ 5 năm lên 10 năm, bãi bỏ điều kiện buôn bán phân bón, giống cây trồng. Đồng thời, dự thảo Luật phải bổ sung cơ chế rà soát, đánh giá định kỳ và đột xuất đối với các hoạt chất sản phẩm được cấp phép lưu hành do cơ quan quản lý chuyên ngành thực hiện, chủ động loại bỏ các sản phẩm độc hại ra khỏi danh mục mà không phụ thuộc vào công bố của quốc tế.
.jpg)



