95% khu công nghiệp trên cả nước đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung
Tính đến nay, cả nước có 95% Khu công nghiệp, 31,5% Cụm công nghiệp đã được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt yêu cầu…
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa cho biết trong năm 2025, Bộ trình Chính phủ ban hành hành 03 Nghị định; trình Bộ trưởng ban hành 14 Thông tư. Tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 02/CTTTg ngày 24/01/2025 của về giải pháp cấp bách kiểm soát ô nhiễm môi trường nước tại một số lưu vực sông tại Quyết định số 746/QĐ-BNNMT ngày 11/4/2025.
Hướng dẫn các địa phương lập kế hoạch quản lý chất lượng nước mặt theo Luật Bảo vệ môi trường. Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm và quản lý chất lượng không khí giai đoạn 2026- 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (trên cơ sở tích hợp Kế hoạch quốc gia về quản lý chất lượng không khí và Đề án khắc phục ô nhiễm tại đô thị).

Duy trì 8 tổ giám sát môi trường với các cơ sở công suất lớn, có nguy cơ gây ô nhiễm cao
Trong năm, bộ cũng đã đôn đốc các địa phương tăng cường kiểm soát ô nhiễm không khí và xử lý triệt để các điểm nóng về ô nhiễm bụi, khí thải; yêu cầu các thành phố, đô thị lớn có nguy cơ cao ô nhiễm không khí thường xuyên tổ chức đánh giá, theo dõi chất lượng môi trường không khí và công khai thông tin theo quy định để cảnh báo cho cộng đồng và triển khai các biện pháp xử lý trong trường hợp chất lượng môi trường không khí bị ô nhiễm; kiểm tra, ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp đốt chất thải không đúng quy định, gây ô nhiễm môi trường.
Tích cực phối hợp, trao đổi với các Bộ, ngành liên quan trong triển khai thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong quản lý các chất ô nhiễm khó phân hủy bao gồm chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy- POP) và nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, sản phẩm, hàng hóa, thiết bị có chứa chất ô nhiễm khó phân hủy, thủ tục đăng ký miễn trừ chất POP.
Chủ động kiểm soát nguồn ô nhiễm, phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường đối với các cơ sở, dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao (nhất là ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu trên phạm vi cả nước); lập danh mục khu vực ô nhiễm môi trường đất đặc biệt nghiêm trọng; khu vực tập trung nhiều nguồn thải; xử lý điểm nóng, sự cố môi trường phát sinh.
Đáng chú ý, ngành đã duy trì 8 Tổ giám sát môi trường đối với các cơ sở công suất lớn, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao; thực hiện giám sát định kỳ hoặc đột xuất, kết hợp với quan trắc tự động, liên tục, nhằm bảo đảm tính khách quan và chính xác trong quá trình theo dõi. Đặc biệt, mô hình “giám sát bốn bên” tiếp tục được triển khai hiệu quả, góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đối với 235/235 cơ sở (tỷ lệ 100%); gửi hồ sơ, đề nghị UBND tỉnh ban hành Quyết định xử phạt hành chính đối với 48 cơ sở với tổng số tiền là 11,4 tỷ đồng.
Triển khai có hiệu quả Đường dây nóng tiếp nhận, xác minh, xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức và cá nhân về ô nhiễm môi trường với 146 thông tin về môi trường. Các thông tin phản ánh đều đã được tiếp nhận và gửi các địa phương ngay trong ngày để xác minh, xử lý.
Cụ thể 8 tổ giám sát môi trường gồm: Tổ số 1 (Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS); Tổ số 2 (Công ty Cổ phần DAP số 2– Vinachem, Công ty Cổ phần Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc, (3) Công ty TNHH Một thành viên Đạm Ninh Bình; Tổ số 3 (Công ty TNHH MTV Nhôm Lâm Đồng– TKV); Tổ số 4 (Công ty Nhôm Đắk Nông- TKV); Tổ số 5 (Các cơ sở tại Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân); Tổ số 6 (Trung tâm Điện lực Duyên Hải, Trung tâm Điện lực Sông Hậu); Tổ số 7 (Tổ hợp Hóa dầu miền Nam Việt Nam); Tổ số 8 (Các cơ sở sản xuất luyện thép tại Khu công nghiệp Phú Mỹ 1 và Phú Mỹ 2).
Triển khai nhiều giải pháp đồng bộ về quản lý rác thải, chất thải công nghiệp và nguy hại, từng bước thực hiện tái chế, tái sử dụng rác thải thay cho chôn lấp, giảm thiểu rác thải nhựa; vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu sản xuất, cụm công nghiệp. Đến nay, 95% Khu công nghiệp, 31,5% Cụm công nghiệp đã được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt yêu cầu.
Tính chung cả giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn bình quân đạt 96,7%/năm, năm 2025 đạt 97,28%. Tỷ lệ Khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt 92,3% (vượt, kế hoạch 92%).
Công tác quản lý chất thải công nghiệp, nguy hại được kiểm soát chặt chẽ từ phát sinh đến xử lý, với 122 cơ sở xử lý trên toàn quốc, tỷ lệ thu gom, xử lý khoảng 98%; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý tại đô thị là 97,28%, nông thôn là 83%; tỷ lệ chôn lấp khoảng 59%
Duy trì, vận hành hệ thống các trạm quan trắc môi trường tự động, liên tục; báo cáo, cung cấp thông tin diễn biến hiện trạng môi trường tại các khu vực được lắp đặt trạm quan trắc, kịp thời cảnh báo chất lượng môi trường trong trường hợp có diễn biến xấu. Tích cực đôn đốc, hướng dẫn địa phương thực hiện việc kết nối, truyền dẫn và xử lý dữ liệu quan trắc tự động liên tục của 2.068 trạm quan trắc trên cả nước.
Hài hòa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững
Cũng trong năm qua, Bộ đã tập trung xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm và quản lý chất lượng không khí giai đoạn 2026- 2030. Tổ chức triển khai Quy hoạch tổng thể quan trắc môi trường quốc gia giai đoạn 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2030 đúng quy định. Đôn đốc các địa phương tăng cường kiểm soát ô nhiễm không khí và xử lý triệt để các điểm nóng về ô nhiễm bụi, khí thải.
Yêu cầu các thành phố, đô thị lớn có nguy cơ cao ô nhiễm không khí thường xuyên tổ chức đánh giá, theo dõi chất lượng môi trường không khí và công khai thông tin theo quy định để cảnh báo cho cộng đồng và triển khai các biện pháp xử lý trong trường hợp chất lượng môi trường không khí bị ô nhiễm; kiểm tra, ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp đốt chất thải không đúng quy định, gây ô nhiễm môi trường.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết sang năm 2026, một trong những mục tiêu được ngành đặt ra là tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh nguồn nước, giảm thiểu tác động tiêu cực của hạn hán, xâm nhập mặn, sa mạc hóa
Tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, khai thác sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực tài nguyên (đất, nước, khoáng sản, biển, rừng...) phục vụ phát triển kinh tế xã hội; bảo đảm an ninh nguồn nước, giảm thiểu tác động tiêu cực của hạn hán, xâm nhập mặn, sa mạc hóa; phát triển kinh tế biển gắn với nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản để làm chủ biển khơi, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và tài nguyên biển.
Triển khai đồng bộ các giải pháp về bảo vệ môi trường, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và xây dựng nền kinh tế tuần hoàn. Tiếp tục hiện đại hóa mạng lưới khí tượng thủy văn nhằm nâng cao chất lượng dự báo phục vụ phát triển kinh tế xã hội và phòng chống thiên tai.
Hoàn thiện cơ sở pháp lý phục vụ vận hành thị trường carbon; đẩy mạnh các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính ở các ngành, lĩnh vực và các doanh nghiệp với quy mô rộng lớn; triển khai đồng bộ các giải pháp và huy động nguồn lực hỗ trợ các Bộ, ngành, địa phương chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai, biến đổi khí hậu…
Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu giai đoạn 2021-2025:
- Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh của dân cư nông thôn đạt 94,5% năm 2024 và dự kiến năm 2025 đạt 95,5%;
- Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn bình quân đạt 96,7%/năm, năm 2025 đạt 97,28%;
- Tỷ lệ Khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt 92,3% (vượt, kế hoạch 92%);
- Tỷ lệ che phủ rừng duy trì ổn định ở mức 42,02%; năm 2024 và 2025 đạt 42,03% (vượt, kế hoạch 42%).
- Tổng mức giảm phát thải khí nhà kính của các lĩnh vực dự tính đã vượt mục tiêu giảm 7,3% so với Kịch bản phát triển thông thường (BAU) bằng nguồn lực trong nước theo mục tiêu NDC cập nhật năm 2022.




