Tiết kiệm và trữ nước – giải pháp cấp bách trước hạn mặn
Biến đổi khí hậu, nước biển dâng và tác động từ các công trình thượng nguồn đang khiến tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng nghiêm trọng, đòi hỏi các địa phương phải chủ động giải pháp trữ nước và sử dụng nước tiết kiệm.
Ngày 22/3, UBND thành phố Cần Thơ phối hợp với Báo Tiền Phong tổ chức hội thảo với chủ đề “An ninh nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long trước biến đổi khí hậu”, nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo đảm nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét.
Sông ngòi dày đặc nhưng vẫn thiếu nước ngọt
Theo ông Nguyễn Hoàng Anh, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ, dù hệ thống sông ngòi, kênh rạch của thành phố rất dày đặc và nguồn nước tương đối dồi dào, nhưng những năm gần đây khu vực này đang chịu tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu.

Các hiện tượng như triều cường gây ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt vào mùa khô xuất hiện với tần suất cao hơn. Đồng thời, tình trạng sạt lở bờ sông và sụt lún đất cũng gia tăng trong bối cảnh nhu cầu khai thác và sử dụng nước ngày càng lớn.
Ông Nguyễn Minh Khuyến, Phó cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết nguồn nước của Đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc chủ yếu vào dòng chảy từ thượng nguồn sông Mekong. Tuy nhiên, những năm gần đây, lượng nước về khu vực này có xu hướng giảm đáng kể.
Cụ thể, dòng chảy qua các trạm thủy văn Tân Châu và Châu Đốc giảm khoảng 13% so với mức trung bình nhiều năm. Đặc biệt, vào mùa khô các năm 2015–2016 và 2019–2020, mức giảm lần lượt lên tới 36% và 28%, gây ra nhiều khó khăn cho sản xuất và đời sống người dân.
Theo dự báo của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ranh mặn có thể xâm nhập sâu hơn vào đất liền. Đến năm 2030, ranh mặn dự kiến tăng trung bình 3,34 km, và đến năm 2050 có thể tăng 6,7 km so với hiện nay.
Nếu điều kiện công trình thủy lợi không được cải thiện, diện tích có nguy cơ cao bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn có thể đạt khoảng: 64.000 ha vào năm 2030, tập trung tại các tỉnh Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long; 256.000 ha vào năm 2050, mở rộng sang các tỉnh Cà Mau và nhiều khu vực khác
Đẩy mạnh tích trữ và sử dụng nước tiết kiệm
Trước thực trạng trên, các địa phương trong vùng đang triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo đảm nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất, đặc biệt trong mùa khô.
Ông Nguyễn Hoàng Anh cho biết trong quy hoạch phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050, thành phố Cần Thơ xác định nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước là nhiệm vụ trọng tâm. Thành phố đang tập trung đầu tư các công trình trữ nước ngọt phục vụ mùa khô, đồng thời ưu tiên sử dụng nước mặt, từng bước giảm khai thác nước ngầm nhằm hạn chế sụt lún và sạt lở.
Tại tỉnh Vĩnh Long, ông Văn Hữu Huệ, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, cho biết địa phương đang vận hành hiệu quả hệ thống công trình thủy lợi để chủ động trữ nước ngọt, đồng thời tăng cường tuyên truyền người dân chủ động tích trữ nước và sử dụng nước tiết kiệm.
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nguồn nước ngày càng biến động, cần thay đổi tư duy quản lý tài nguyên nước, coi nước mặn, nước lợ và nước ngọt đều là nguồn tài nguyên cần được khai thác và sử dụng hợp lý.
TS Nguyễn Phú Quỳnh, Phó viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, đề xuất cần phát triển các giải pháp trữ nước ở cả quy mô lớn và nhỏ, từ hệ thống kênh rạch đến ao, mương, ruộng tại hộ gia đình, nhằm tăng khả năng chủ động ứng phó với hạn hán và xâm nhập mặn.
Bên cạnh đó, việc điều phối liên vùng, ứng dụng công nghệ trong quản lý và vận hành hệ thống thủy lợi, cũng như tăng cường sự tham gia của cộng đồng, được xem là yếu tố then chốt để bảo đảm an ninh nguồn nước cho Đồng bằng sông Cửu Long trong tương lai.




