Môi trường - Tài nguyên

Biến phụ phẩm nông nghiệp thành tài nguyên: Dư địa lớn cho tăng trưởng xanh

Thiên Thanh 24/07/2026 17:00

Mỗi năm, Việt Nam tạo ra hàng chục triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp nhưng phần lớn vẫn chưa được khai thác hiệu quả. Theo các chuyên gia, tận dụng nguồn tài nguyên này theo mô hình kinh tế tuần hoàn không chỉ giúp giảm phát thải, bảo vệ môi trường mà còn mở ra dư địa tăng trưởng và gia tăng giá trị cho ngành nông nghiệp.

Mỗi năm, ngành nông nghiệp Việt Nam tạo ra khối lượng rất lớn phụ phẩm như rơm rạ, thân lá cây trồng, bã sắn, vỏ trái cây, chất thải chăn nuôi, vỏ tôm, vỏ trấu... Tuy nhiên, phần lớn lượng vật chất này vẫn bị đốt, chôn lấp hoặc thải bỏ, gây lãng phí tài nguyên, làm gia tăng ô nhiễm môi trường và phát thải khí nhà kính, đồng thời kéo theo chi phí xử lý không nhỏ.

Trong bối cảnh các yêu cầu về giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe, phụ phẩm nông nghiệp đang được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên thay vì chất thải. Khi được thu gom, phân loại và xử lý bằng công nghệ phù hợp, chúng có thể trở thành nguyên liệu cho sản xuất phân bón hữu cơ, thức ăn chăn nuôi, năng lượng sinh học và nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao.

fhj.png
Biến phụ phẩm nông nghiệp thành tài nguyên

Theo các chuyên gia, thay đổi tư duy từ "xử lý chất thải" sang "khai thác tài nguyên" sẽ mở ra dư địa tăng trưởng mới cho ngành nông nghiệp, góp phần giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn.

Tiềm năng còn rất lớn

GS.TS Nguyễn Huy Khang, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao Khoa học Công nghệ, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM cho biết, xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới đang chuyển mạnh sang mô hình tuần hoàn và phát thải thấp. Đây cũng là hướng đi phù hợp với cam kết đưa phát thải ròng về mức "0" vào năm 2050 của Việt Nam.

Theo ông, nếu không được quản lý hiệu quả, phụ phẩm và chất thải nông nghiệp sẽ trở thành gánh nặng đối với môi trường. Ngược lại, khi được xử lý bằng công nghệ phù hợp, các nguồn vật liệu này có thể quay trở lại chuỗi sản xuất dưới dạng nguyên liệu đầu vào, góp phần gia tăng giá trị cho toàn ngành.

Thực tế, nhiều loại phụ phẩm đã được tận dụng hiệu quả. Bã sắn sau chế biến tinh bột được dùng làm thức ăn chăn nuôi hoặc nguyên liệu sinh học; phân bò phục vụ nuôi trùn quế; rơm được chế biến thành phân hữu cơ, giá thể trồng nấm hoặc thức ăn cho gia súc; trong khi vỏ tôm, cua và các phụ phẩm thủy sản được sử dụng để sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp sinh học.

Bên cạnh đó, thân lá cây trồng, vỏ trái cây và nhiều loại phụ phẩm hữu cơ khác cũng có thể được ủ thành phân bón hoặc phối trộn làm thức ăn cho vật nuôi.

Một mô hình đang được nhiều địa phương quan tâm là tận dụng phụ phẩm hữu cơ để nuôi ruồi lính đen. Ấu trùng ruồi trở thành nguồn thức ăn giàu đạm cho chăn nuôi, còn phần bã tiếp tục được sử dụng làm phân bón hữu cơ, tạo nên chu trình tái sử dụng dinh dưỡng gần như khép kín.

Đối với rơm rạ, mỗi năm Việt Nam phát sinh hơn 40 triệu tấn. Nếu tiếp tục đốt ngoài đồng, lượng phụ phẩm này sẽ tạo ra lượng lớn khí nhà kính và gây ô nhiễm không khí. Trong khi đó, chỉ cần thu gom và xử lý bằng chế phẩm vi sinh, rơm có thể trở thành thức ăn chăn nuôi, phân hữu cơ hoặc nguyên liệu phục vụ sản xuất nấm.

Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường, nhờ ứng dụng mô hình kinh tế tuần hoàn, giá rơm phục vụ trồng nấm đã tăng từ khoảng 57.000 đồng lên 107.000 đồng cho mỗi 30kg.

Ông cho rằng điều này cho thấy giá trị của nông nghiệp không chỉ nằm ở sản phẩm chính mà còn ở khả năng khai thác hiệu quả toàn bộ nguồn vật chất phát sinh trong quá trình sản xuất. Nếu được tổ chức theo chuỗi, phụ phẩm có thể tạo thêm nguồn thu cho nông dân, giảm chi phí xử lý môi trường và hạn chế phụ thuộc vào nguyên liệu đầu vào.

ThS Ngô Xuân Chinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam nhận định, năng suất của nhiều cây trồng chủ lực như lúa, cà phê và hồ tiêu hiện đã ở mức cao. Muốn tăng thêm chỉ 1% năng suất cũng đòi hỏi chi phí đáng kể cho phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nhân công.

Trong khi đó, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch vẫn dao động từ 15-20%, cho thấy ngành vẫn đang để mất một phần giá trị rất lớn ở các khâu bảo quản, chế biến và tiêu thụ.

Theo ông Chinh, thay vì tiếp tục chạy theo năng suất bằng mọi giá, ngành nông nghiệp cần ưu tiên giảm thất thoát, phát triển công nghệ bảo quản, chế biến sâu và tận dụng tối đa phụ phẩm để tạo thêm giá trị gia tăng.

Ông dẫn chứng mô hình của Trang trại Phong Quý (Lâm Đồng), nơi phụ phẩm từ hoạt động sản xuất của trang trại cùng khoảng 500 hộ liên kết được sử dụng để sản xuất phân hữu cơ và thức ăn chăn nuôi. Chu trình này vừa giúp giảm lượng chất thải phát sinh, vừa nâng cao chất lượng nông sản và hiệu quả kinh tế.

Hoàn thiện chuỗi kinh tế tuần hoàn

Dù tiềm năng rất lớn, việc đưa phụ phẩm quay trở lại chuỗi sản xuất vẫn gặp nhiều rào cản về công nghệ, thị trường và đặc biệt là hành lang pháp lý.

Ông Nguyễn Chí Công, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Đồng Nai cho biết, mỗi ngày địa phương cung ứng ra thị trường khoảng 15.000 con heo cùng sản lượng lớn gia cầm, trái cây và nhiều nông sản khác, đồng nghĩa với việc phát sinh lượng phụ phẩm rất lớn.

Theo ông, nhiều loại vỏ trái cây như sầu riêng, mít, xoài hoàn toàn có thể được tận dụng làm thức ăn cho bò. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp muốn thu gom và chế biến, những vật liệu này đôi khi lại bị xem là chất thải, kéo theo các thủ tục về giấy phép xử lý môi trường.

Ông cho rằng cần sớm có quy định rõ ràng để phân biệt phụ phẩm có khả năng tái sử dụng với chất thải bắt buộc phải xử lý. Nếu mọi loại vật liệu đều bị quản lý theo cùng một cơ chế, doanh nghiệp sẽ thiếu động lực đầu tư vào hoạt động thu gom và tái chế.

Khi khung pháp lý được hoàn thiện, phụ phẩm nông nghiệp không chỉ là nguồn nguyên liệu giá rẻ mà còn góp phần giảm phát thải methane trong chăn nuôi thông qua các khẩu phần phối trộn hợp lý. Đồng thời, khí sinh học từ chất thải chăn nuôi có thể được thu hồi để sản xuất năng lượng, còn phần bã tiếp tục phục vụ trồng trọt.

Theo GS.TS Nguyễn Huy Khang, cốt lõi của kinh tế tuần hoàn là kéo dài vòng đời nguyên liệu và tái sử dụng tối đa nguồn dinh dưỡng. Tuy nhiên, mỗi mô hình cần được tính toán trên cơ sở công nghệ, chi phí đầu tư và khả năng tiêu thụ sản phẩm nhằm bảo đảm hiệu quả kinh tế song song với mục tiêu bảo vệ môi trường.

Để phụ phẩm thực sự trở thành nguồn tài nguyên trên quy mô lớn, các chuyên gia cho rằng cần tăng cường liên kết giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân. Đồng thời, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về sản xuất tuần hoàn và giảm phát thải; nhân rộng các mô hình trình diễn, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý dinh dưỡng, kiểm kê carbon và truy xuất dữ liệu, qua đó tạo nền tảng cho một nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn và phát triển bền vững.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Biến phụ phẩm nông nghiệp thành tài nguyên: Dư địa lớn cho tăng trưởng xanh
(*) Bản quyền thuộc về Tạp chí điện tử Môi trường và Cuộc sống. Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.