Kiểm soát ô nhiễm không khí: Cần cơ chế quản trị ở quy mô vùng
Chuyên gia đề xuất xây dựng cơ chế quản trị chất lượng không khí vùng, tăng phối hợp liên tỉnh, chia sẻ dữ liệu và kiểm soát nguồn phát thải.
Ô nhiễm không khí không dừng lại ở ranh giới hành chính khi nguồn phát thải và các điều kiện khí tượng có thể khiến chất ô nhiễm lan truyền giữa nhiều địa phương.
TS. Hoàng Dương Tùng - Chủ tịch Hội Không khí sạch Việt Nam đã cho biết tại hội thảo "Khắc phục ô nhiễm và cải thiện chất lượng không khí tại Việt Nam: Từ chính sách đến hành động" ngày 29/9 rằng, khi nguồn phát thải, điều kiện khí tượng và quá trình lan truyền ô nhiễm từ địa phương này có thể tác động đồng thời đến nhiều địa phương khác, việc kiểm soát ô nhiễm không khí cần được tiếp cận ở quy mô vùng.
Theo TS. Hoàng Dương Tùng, từ nền tảng quản trị theo không gian môi trường hiện nay, Việt Nam cần từng bước xây dựng cơ chế quản trị chất lượng không khí vùng hoàn chỉnh hơn. Ô nhiễm không khí vẫn xuất hiện theo từng thời kỳ, có thời điểm vượt quy chuẩn. Trong đó, nhiều hợp chất có thể tạo thành bụi mịn thứ cấp, khiến quá trình kiểm soát và xử lý ô nhiễm trở nên phức tạp hơn.

TS. Hoàng Dương Tùng thông tin thêm, từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng để thiết lập nền tảng, kiểm chứng, hoàn thiện và làm rõ cơ chế quản trị chất lượng không khí vùng.
Việt Nam hiện đã có nhiều nền tảng pháp lý, chiến lược về môi trường và chất lượng không khí đang từng bước được hoàn thiện. Mạng lưới quan trắc tiếp tục được mở rộng, nhất là tại các đô thị lớn. Nguồn dữ liệu phục vụ quản lý ngày càng đa dạng, gồm dữ liệu quan trắc môi trường, khí tượng, nguồn thải, giao thông và hệ thống quan trắc khí thải tự động, liên tục (CEMS). Cùng với đó là kinh nghiệm từ các chương trình, dự án trong nước và hợp tác quốc tế.
Để những nền tảng về pháp lý, kỹ thuật và dữ liệu trở thành một cơ chế quản trị vùng có khả năng vận hành thực tế, TS. Hoàng Dương Tùng đề xuất 6 điều kiện, với nguyên tắc các địa phương và ngành cùng nhìn, cùng quyết định, cùng hành động và cùng đánh giá.
Thứ nhất, thể chế và thẩm quyền phải rõ ràng. Cơ sở pháp lý cho phối hợp vùng cần xác định rõ mục tiêu, phạm vi, nguyên tắc phối hợp cũng như trách nhiệm và thẩm quyền của từng cấp, từng ngành. Cơ chế cũng cần quy định phương thức xử lý khi xảy ra ô nhiễm ở mức cao, nhất là trong trường hợp nguồn phát thải và quá trình lan truyền vượt qua ranh giới hành chính.
Thứ hai, hình thành hệ thống dữ liệu và bằng chứng chung. Dữ liệu từ quan trắc, khí tượng, nguồn thải, giao thông và các nguồn liên quan cần được kết nối, chuẩn hóa, tích hợp và chia sẻ giữa các địa phương, ngành. Trên nền tảng đó, cần phát triển các mô hình phân tích, dự báo ở quy mô vùng để xác định diễn biến ô nhiễm, mức độ đóng góp của các nguồn phát thải và tác động của điều kiện khí tượng. Khi đó, dữ liệu không chỉ phục vụ báo cáo mà trở thành cơ sở cho việc ra quyết định.
Thứ ba, cần một đầu mối điều phối đủ năng lực. Đầu mối này có nhiệm vụ tổng hợp dữ liệu, phân tích, tham mưu, điều phối giữa các địa phương và ngành, theo dõi việc thực hiện và vận hành nền tảng dữ liệu chung. Cùng với thẩm quyền là đội ngũ chuyên môn ổn định, có khả năng kết nối các lĩnh vực môi trường, khí tượng, giao thông, năng lượng, công nghiệp và quy hoạch đô thị.
Thứ tư, xác định rõ trách nhiệm của từng địa phương và ngành. Mỗi tỉnh, thành phố và ngành liên quan cần đặt mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể, được lồng ghép vào kế hoạch phát triển và chương trình công tác. Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm có tính liên tỉnh, liên ngành cần được tổ chức phối hợp, đi kèm cơ chế báo cáo, theo dõi và giải trình.
Thứ năm, bảo đảm nguồn lực ổn định. Theo TS. Hoàng Dương Tùng, quản trị vùng cần nguồn lực tài chính, kỹ thuật và nhân lực đủ để duy trì hoạt động thường xuyên. Ngân sách nhà nước cần dành nguồn lực cho quan trắc, hạ tầng dữ liệu, mô hình hóa, dự báo và đào tạo; đồng thời huy động nguồn lực xã hội, hợp tác quốc tế và nghiên cứu cơ chế chia sẻ chi phí giữa các địa phương, ngành.
Thứ sáu, tăng cường giám sát, đánh giá và giải trình. Việc thực hiện cần được theo dõi bằng một bộ chỉ số thống nhất, đánh giá kết quả và công khai phù hợp. Quan trọng hơn, kết quả phải được sử dụng để điều chỉnh chính sách, kế hoạch và biện pháp kiểm soát ô nhiễm theo tình hình thực tế.




