Kinh tế xanh

Tái chế chất thải công nghiệp: Gỡ vướng chính sách để phát triển chuỗi giá trị xanh

Hải Đăng • 15:46 03/11/2026

Tái chế, tái sử dụng chất thải trong sản xuất công nghiệp không chỉ góp phần tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm lượng chất thải phải xử lý mà còn mở ra cơ hội phát triển kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, những bất cập về cơ chế pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật và thị trường tiêu thụ đang cản trở quá trình đưa nguồn tài nguyên thứ cấp trở lại chuỗi sản xuất.

Từ áp lực xử lý chất thải đến cơ hội khai thác tài nguyên thứ cấp

Trong bối cảnh nhu cầu nguyên liệu phục vụ sản xuất công nghiệp ngày càng tăng, việc tận dụng các dòng chất thải có khả năng tái chế đang trở thành một hướng đi quan trọng nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên và hạn chế tác động đến môi trường.

Tại tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tái chế, tái sử dụng và tuần hoàn chất thải trong sản xuất công nghiệp để sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 2/11, các chuyên gia, nhà quản lý và đại diện doanh nghiệp đã chỉ ra nhiều bất cập trong quá trình đưa chất thải công nghiệp quay trở lại phục vụ sản xuất.

capture(2).jpg
Ảnh minh họa

Thực tế cho thấy, không ít loại chất thải vẫn còn khả năng thu hồi vật liệu, tái chế hoặc sử dụng làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác. Tuy nhiên, do thiếu cơ chế đồng bộ và những rào cản trong quá trình lưu thông, nhiều nguồn tài nguyên thứ cấp chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng.

Theo Thạc sĩ Nguyễn Thi, giảng viên chính Bộ môn Pháp luật, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo ra sự thay đổi đáng kể trong phương thức quản lý chất thải. Thay vì chỉ tập trung xử lý khi chất thải đã phát sinh, cách tiếp cận mới hướng tới kiểm soát toàn bộ vòng đời sản phẩm.

Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến việc hạn chế phát sinh chất thải ngay từ khâu thiết kế, lựa chọn nguyên vật liệu, tổ chức sản xuất sạch hơn, kéo dài thời gian sử dụng sản phẩm và tăng cường thu gom, tái chế sau khi sản phẩm hết vòng đời.

Cùng với đó, cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), các chính sách ưu đãi về thuế, phí, đất đai, tín dụng xanh và tài chính xanh được kỳ vọng tạo thêm động lực để doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động sản xuất tuần hoàn.

Tuy nhiên, theo ông Trương Việt Trường, chuyên viên chính Phòng Môi trường Công Thương, Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp (Bộ Công Thương), kết quả tái chế, tái sử dụng trong toàn ngành công nghiệp vẫn chưa đạt như kỳ vọng. Việc chuyển đổi từ mô hình xử lý chất thải ở công đoạn cuối sang tổ chức sản xuất theo hướng tuần hoàn ngay trong dây chuyền còn gặp nhiều trở ngại.

Một trong những vấn đề đáng chú ý là chưa có cơ chế đầy đủ để xác định và công nhận những dòng chất thải đã đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, có thể trở thành hàng hóa hoặc nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất.

Thạc sĩ Nguyễn Thi cho rằng, cần hoàn thiện quy định về việc chấm dứt tư cách chất thải đối với những vật chất đủ điều kiện chuyển đổi thành hàng hóa. Việc này cần bảo đảm ba yếu tố cơ bản: vật chất sau chuyển đổi phải có mục đích sử dụng và thị trường tiêu thụ cụ thể; đáp ứng các quy chuẩn nhằm bảo đảm an toàn; đồng thời có quy trình pháp lý minh bạch, rõ ràng và thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện.

Ngoài ra, việc thiếu mã HS đối với các loại vật chất sau khi được chuyển đổi thành hàng hóa cũng gây khó khăn cho hoạt động giao dịch, xuất nhập khẩu. Khi chưa được định danh đầy đủ, những nguồn vật liệu có giá trị vẫn khó tham gia vào chuỗi cung ứng như các loại nguyên liệu thông thường.

Những mô hình tận dụng chất thải trong sản xuất công nghiệp

Thực tiễn từ một số doanh nghiệp cho thấy, nếu được đầu tư công nghệ phù hợp, chất thải hoàn toàn có thể trở thành nguồn nguyên liệu có giá trị, góp phần giảm nhu cầu khai thác tài nguyên mới và hạn chế lượng chất thải phải đưa đi xử lý.

Tại Công ty TNHH Một thành viên Thép Miền Nam (VNSTEEL), công nghệ lò điện hồ quang EAF được lựa chọn ngay từ đầu, với nguyên liệu chính là thép vụn và thép phế để sản xuất thép thành phẩm.

Theo ông Lê Việt, Tổng giám đốc Công ty, việc sử dụng công nghệ này tạo điều kiện để các sản phẩm thép đã qua sử dụng được thu hồi, đưa trở lại dây chuyền sản xuất và tiếp tục một vòng đời mới.

Báo cáo được doanh nghiệp trình bày tại tọa đàm cho thấy, mức phát thải trung bình khi sản xuất một tấn thép bằng công nghệ lò cao vào khoảng 1,8 tấn CO₂, trong khi con số tương ứng đối với công nghệ lò điện EAF là khoảng 0,5 tấn CO₂. Tuy nhiên, lượng phát thải thực tế còn phụ thuộc vào điều kiện vận hành, nguồn nguyên liệu đầu vào và loại năng lượng được sử dụng.

Không dừng lại ở việc tận dụng thép phế, doanh nghiệp còn đầu tư khoảng 42 tỷ đồng cho hệ thống thu hồi bụi lò. Lượng bụi thu được được chuyển đến các đơn vị chuyên xử lý để thu hồi kim loại, trong đó hàm lượng kẽm được doanh nghiệp đề cập ở mức khoảng 30-35%.

Đối với xỉ lò điện, doanh nghiệp cũng nghiên cứu phương án xử lý và tận dụng làm nguyên liệu phục vụ sản xuất xi măng, bê tông nhẹ. Đây là hướng tiếp cận góp phần mở rộng khả năng sử dụng chất thải giữa các ngành công nghiệp, thay vì chỉ tập trung vào phương án xử lý, thải bỏ.

Dù vậy, hoạt động tái chế của doanh nghiệp vẫn chịu tác động từ những bất cập trong hệ thống quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật giữa các bộ, ngành. Theo ông Lê Việt, một số yêu cầu liên quan đến thép phế nhập khẩu và kiểm soát tạp chất chưa thực sự phù hợp với thông lệ quốc tế, gây trở ngại cho việc nhập khẩu nguyên liệu.

Trong khi đó, các thị trường xuất khẩu lớn như Mỹ và châu Âu ngày càng nâng cao yêu cầu đối với chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn môi trường và kiểm soát phát thải carbon. Điều này đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải tiếp tục cải tiến công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên liệu và kiểm soát tốt hơn các tác động môi trường trong quá trình sản xuất.

Ngành giấy cũng là lĩnh vực có nhiều tiềm năng trong việc phát triển mô hình sản xuất tuần hoàn. Theo Tiến sĩ Lương Chí Hiếu, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển VPPA, kiêm Chánh Văn phòng Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam, mỗi năm ngành giấy sử dụng gần 7 triệu tấn nguyên liệu tái chế, chủ yếu là giấy bao bì.

Việc sử dụng lượng lớn nguyên liệu tái chế cho thấy vai trò của hoạt động thu hồi, tái chế trong việc giảm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu mới. Tuy nhiên, ngành giấy vẫn đang gặp khó khăn trong xử lý và tận dụng tro, xỉ phát sinh từ các nhà máy.

Do thiếu hướng dẫn liên ngành, một số nguồn tro, xỉ có khả năng sử dụng làm vật liệu xây dựng, vật liệu san lấp hoặc phụ gia cho các ngành công nghiệp khác vẫn chưa được khai thác hiệu quả. Nếu tháo gỡ được những vướng mắc này, lượng chất thải phát sinh có thể được chuyển hóa thành nguồn nguyên liệu phục vụ các hoạt động sản xuất khác.

Một vấn đề khác được đại diện ngành giấy đề cập là quy định ký quỹ đối với doanh nghiệp nhập khẩu giấy phế liệu. Hiện mức ký quỹ được áp dụng ở khoảng 15-20% giá trị lô hàng. Theo Tiến sĩ Lương Chí Hiếu, khoản tiền này khiến một phần vốn của doanh nghiệp bị giữ lại, ảnh hưởng đến khả năng bố trí nguồn lực cho hoạt động sản xuất và đầu tư. Do đó, ông đề xuất xem xét điều chỉnh tỷ lệ ký quỹ xuống khoảng 0-5%.

Hoàn thiện cơ chế, hình thành chuỗi tuần hoàn liên ngành

Theo ông Trương Việt Trường, mỗi năm các ngành năng lượng, luyện kim và hóa chất phát sinh hàng chục triệu tấn tro, xỉ, xỉ thép và thạch cao. Đây là những dòng chất thải có tiềm năng thu hồi, tái chế và sử dụng làm nguyên liệu cho các lĩnh vực sản xuất khác.

Nếu không được quản lý và tận dụng hiệu quả, lượng chất thải này không chỉ chiếm dụng diện tích đất để lưu chứa mà còn làm gia tăng chi phí cho doanh nghiệp, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ xảy ra các sự cố môi trường.

Vì vậy, việc thay đổi cách nhìn nhận chất thải công nghiệp, từ đối tượng phải xử lý thành nguồn tài nguyên có thể khai thác, cần được xem là một trong những định hướng quan trọng trong quá trình chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh.

Bộ Công Thương đang triển khai Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam giai đoạn 2025-2030 theo Quyết định số 1894/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Cùng với đó, Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương tại Quyết định số 3637 tập trung vào các nhiệm vụ như nghiên cứu, làm chủ công nghệ xử lý và tái chế chất thải; hoàn thiện danh mục công nghệ, thiết bị, sản phẩm môi trường; khuyến khích phát triển cộng sinh công nghiệp và tăng cường phối hợp để huy động các nguồn lực tài chính xanh.

Tuy nhiên, để những định hướng này đi vào thực tiễn, việc hoàn thiện chính sách cần được triển khai đồng bộ với sự chủ động của doanh nghiệp. Trong đó, liên kết giữa các cơ sở sản xuất có vai trò quan trọng nhằm hình thành những chuỗi tuần hoàn, nơi chất thải hoặc sản phẩm phụ của doanh nghiệp này có thể trở thành nguyên liệu đầu vào cho doanh nghiệp khác.

Bên cạnh việc thúc đẩy công nghệ thu gom, phân loại và tái chế, phát triển thị trường tiêu thụ nguyên liệu tái chế cũng là yếu tố không thể thiếu. Bởi nếu chỉ chú trọng tạo nguồn cung mà không có nhu cầu sử dụng ổn định, hoạt động thu hồi và tái chế sẽ khó duy trì hiệu quả lâu dài.

Thực tế cho thấy, biến chất thải công nghiệp thành tài nguyên không đơn thuần là câu chuyện đầu tư thiết bị hay cải tiến dây chuyền sản xuất tại từng nhà máy. Đây còn là quá trình hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa chất lượng vật liệu sau tái chế và kết nối các mắt xích trong chuỗi cung ứng.

Khi những rào cản về pháp lý, kỹ thuật và thị trường từng bước được tháo gỡ, nguồn tài nguyên thứ cấp sẽ có thêm cơ hội quay trở lại phục vụ sản xuất. Qua đó, góp phần giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên, hạn chế lượng chất thải phải xử lý và thúc đẩy mục tiêu phát triển công nghiệp theo hướng xanh, tuần hoàn và bền vững.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Tái chế chất thải công nghiệp: Gỡ vướng chính sách để phát triển chuỗi giá trị xanh
(*) Bản quyền thuộc về Tạp chí điện tử Môi trường và Cuộc sống. Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.