Nước và cuộc sống

Chỉ 35% cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải

Minh Kiên 19/04/2026 12:30

Sau 5 năm thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, hạ tầng xử lý nước thải tại các khu công nghiệp đã đạt nhiều kết quả tích cực, với tỷ lệ trên 95% khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Tuy nhiên, ở cấp độ cụm công nghiệp và làng nghề, khoảng cách về năng lực bảo vệ môi trường vẫn còn lớn khi tỷ lệ này mới chỉ đạt khoảng 35%.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định cụ thể về kiểm soát ô nhiễm đối với khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề, trong đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường và xác định rõ trách nhiệm của Ban quản lý khu công nghiệp, cơ quan quản lý cụm công nghiệp, chính quyền địa phương, chủ đầu tư hạ tầng và các cơ sở sản xuất.

nuoc-thai.jpg
Ảnh minh họa

Thực hiện quy định của Luật, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các bộ, ngành và địa phương tăng cường giám sát, kiểm soát các nguồn thải lớn, đặc biệt tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề.

Theo Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật Bảo vệ môi trường giai đoạn 2020 - 2025, tính đến hết năm 2025, cả nước có 324 khu công nghiệp đang hoạt động, trong đó 309 khu đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung, đạt tỷ lệ 95,37%, vượt chỉ tiêu Quốc hội giao. Toàn bộ các khu công nghiệp này đã lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, truyền dữ liệu về cơ quan quản lý nhà nước.

Đối với số khu công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, các doanh nghiệp trong khu đã chủ động đầu tư hệ thống xử lý nước thải riêng, bảo đảm đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường trước khi xả thải ra môi trường.

Trong khi đó, tại các cụm công nghiệp, tiến độ đầu tư hạ tầng môi trường còn chậm. Tỷ lệ cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung tăng từ 8,9% năm 2016 lên 34,7% vào năm 2025, tương đương 251/723 cụm công nghiệp đi vào hoạt động. Con số này cho thấy nỗ lực cải thiện trong những năm qua, song vẫn chưa đáp ứng yêu cầu kiểm soát ô nhiễm trong bối cảnh phát triển công nghiệp và đô thị hóa nhanh.

Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu chức năng trong khu kinh tế nhìn chung đã tuân thủ tương đối tốt các quy định về bảo vệ môi trường, đặc biệt trong việc đầu tư hệ thống thoát nước, xử lý nước thải và quan trắc tự động. Việc tập trung cơ sở sản xuất vào khu công nghiệp cũng góp phần hạn chế tình trạng sản xuất phân tán, giảm áp lực ô nhiễm tại khu dân cư và nội đô.

Tuy nhiên, tại các cụm công nghiệp và làng nghề, đặc biệt là các làng nghề tái chế, tình trạng ô nhiễm môi trường nước và không khí vẫn diễn biến phức tạp. Nguyên nhân chủ yếu do phần lớn cơ sở sản xuất hoạt động quy mô hộ gia đình, sử dụng công nghệ lạc hậu, chưa đầu tư hệ thống xử lý khí thải, bụi và nước thải. Nhiều khu vực chưa có hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm kéo dài.

Trong công tác khắc phục ô nhiễm làng nghề, thống kê cho thấy 31/47 làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã triển khai các biện pháp cải thiện môi trường, trong đó nhiều làng nghề đã hoàn thành việc xử lý ô nhiễm, thu hẹp quy mô sản xuất hoặc chuyển đổi ngành nghề. Hiện còn 16 làng nghề đang tiếp tục thực hiện các giải pháp khắc phục.

Một số địa phương đã có biện pháp mạnh tay nhằm xử lý triệt để các nguồn gây ô nhiễm. Điển hình, tỉnh Bắc Ninh đã dừng hoạt động sản xuất tại các làng nghề Phong Khê và Mẫn Xá, qua đó ngăn chặn nguồn phát thải và cải thiện rõ rệt chất lượng môi trường tại khu vực.

Đối với chất thải rắn công nghiệp thông thường, tỷ lệ thu gom và xử lý hiện duy trì ở mức trên 90%. Việc tái chế các loại chất thải đặc thù như tro xỉ, thạch cao cũng ngày càng được quan tâm, bảo đảm tuân thủ các yêu cầu về môi trường.

Trong lĩnh vực chất thải rắn sinh hoạt, tổng lượng phát sinh trên cả nước ước khoảng 72.341 tấn/ngày, trong đó khu vực đô thị chiếm khoảng 39.194 tấn/ngày và khu vực nông thôn khoảng 33.147 tấn/ngày. Tỷ lệ thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt tại đô thị đạt trung bình 97,59%, vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra, trong khi khu vực nông thôn đạt khoảng 84,14%.

Các chuyên gia cho rằng, khoảng cách về hạ tầng xử lý môi trường giữa khu công nghiệp và cụm công nghiệp đang trở thành điểm nghẽn trong quản lý ô nhiễm hiện nay. Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao đi kèm yêu cầu phát triển bền vững, việc đẩy nhanh đầu tư hệ thống xử lý nước thải tại cụm công nghiệp và làng nghề sẽ là nhiệm vụ cấp thiết trong giai đoạn tới.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Chỉ 35% cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải
(*) Bản quyền thuộc về Tạp chí điện tử Môi trường và Cuộc sống. Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.