Thu tiền sử dụng khu vực biển theo không gian: Tạo động lực khai thác xa bờ
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, một trong những nội dung cốt lõi của Thông tư mới vừa ban hành là cách tiếp cận định giá thuê theo vị trí địa lý và phân chia cụ thể từng không gian biển.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư 18/2026/TT-BNNMT quy định mức thu tiền sử dụng khu vực biển thuộc thẩm quyền giao của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Với cách tiếp cận mới dựa trên phân vùng không gian biển và mức thu giảm dần theo khoảng cách từ bờ ra khơi, chính sách này được kỳ vọng trở thành công cụ tài chính quan trọng nhằm khuyến khích các hoạt động kinh tế biển phát triển theo hướng khai thác xa bờ và bền vững.
Thiết lập cơ chế thu tiền sử dụng biển theo không gian
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Thông tư 18/2026/TT-BNNMT được xây dựng nhằm cụ thể hóa một số quy định tại Nghị định 11/2021/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung liên quan.
Thông tư áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến các hoạt động sử dụng khu vực biển phải nộp tiền sử dụng biển thuộc thẩm quyền giao của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; đồng thời áp dụng đối với các trường hợp bồi thường khi Nhà nước thu hồi khu vực biển vì mục đích công cộng, quốc phòng, an ninh.
Một trong những nội dung cốt lõi của Thông tư là cách tiếp cận định giá sử dụng khu vực biển theo vị trí địa lý và phân chia cụ thể từng không gian biển. Theo quy định tại Điều 2, khu vực biển được chia thành vùng biển liên vùng và các dải từ 6–9 hải lý, 9–12 hải lý, 12–15 hải lý và ngoài 15 hải lý.
Trên cơ sở phân vùng này, Điều 4 của Thông tư quy định mức thu cụ thể cho từng nhóm hoạt động với nguyên tắc xuyên suốt là mức thu giảm dần theo khoảng cách từ bờ ra biển.

Chẳng hạn, đối với hoạt động nhận chìm, mức thu từ 6–9 hải lý là 20.000 đồng/m³, trong khi ngoài 15 hải lý giảm còn 15.000 đồng/m³. Với nhóm hoạt động cảng biển, dịch vụ, dầu khí, mức thu từ 6–9 hải lý là 7,3 triệu đồng/ha/năm, còn ngoài 15 hải lý là 6,5 triệu đồng/ha/năm.
Không chỉ áp dụng cho một số hoạt động riêng lẻ, cách tính này được triển khai đồng bộ cho nhiều nhóm hoạt động như xây dựng công trình trên biển, hệ thống cáp và đường ống, nuôi trồng thủy sản, khai thác năng lượng…
Đáng chú ý, Thông tư cũng quy định rõ: trong trường hợp khu vực biển nằm ở nhiều dải khác nhau, mức thu sẽ được tính theo từng phần diện tích tương ứng. Quy định này nhằm bảo đảm việc thu đúng theo giá trị từng khu vực, tránh áp dụng một mức bình quân thiếu chính xác.
Bên cạnh đó, tại vùng biển liên vùng được quy định tại Điều 3, nhiều hoạt động được áp dụng chung mức 7,5 triệu đồng/ha/năm. Cách tính này giúp đơn giản hóa thủ tục thu tiền và tạo thuận lợi cho công tác quản lý.
Công cụ tài chính định hướng phát triển kinh tế biển
Không chỉ cụ thể hóa các quy định hiện hành, Thông tư 18/2026/TT-BNNMT còn cho thấy rõ vai trò của chính sách tài chính trong việc định hướng phát triển không gian biển.
Thông qua việc thiết kế biểu phí giảm dần theo khoảng cách từ bờ ra khơi, Nhà nước tạo động lực kinh tế để các dự án dịch chuyển ra xa bờ – nơi có tiềm năng lớn nhưng lâu nay chưa được khai thác hiệu quả do chi phí đầu tư cao.
Đối với lĩnh vực năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, mức thu được thiết kế theo hướng khuyến khích mạnh mẽ. Cụ thể, tại khu vực từ 6–9 hải lý, tiền sử dụng biển là 7 triệu đồng/ha/năm; từ 9–12 hải lý giảm còn 5,5 triệu đồng/ha/năm; từ 12–15 hải lý là 4,5 triệu đồng/ha/năm; và ngoài 15 hải lý chỉ còn 3 triệu đồng/ha/năm.
Khoảng chênh lệch lớn này không chỉ giúp giảm chi phí đầu tư mà còn tạo định hướng rõ ràng cho việc phát triển các dự án điện gió ngoài khơi – lĩnh vực được đánh giá có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch năng lượng của Việt Nam.
Tương tự, trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, mức thu cũng giảm từ 7 triệu đồng xuống còn 4 triệu đồng/ha/năm khi hoạt động diễn ra ngoài 15 hải lý. Điều này cho thấy chính sách không chỉ hướng tới các ngành công nghiệp quy mô lớn mà còn mở rộng không gian phát triển cho các ngành kinh tế biển truyền thống.
Riêng đối với hoạt động nhận chìm, Thông tư thiết lập mức thu theo cả hai tiêu chí: không gian biển và khối lượng. Với vùng biển liên vùng, mức thu được quy định thống nhất là 20.000 đồng/m³. Trong khi đó, tại các khu vực khác, mức thu được phân hóa theo khoảng cách từ bờ ra biển, giảm dần từ 20.000 đồng/m³ ở khu vực 6–9 hải lý xuống 18.500 đồng/m³ tại 9–12 hải lý, 16.500 đồng/m³ tại 12–15 hải lý và còn 15.000 đồng/m³ ở khu vực ngoài 15 hải lý.
Theo đánh giá của các chuyên gia, cách thiết kế này phù hợp với thực tiễn quản lý, bởi hoạt động nhận chìm tiềm ẩn nhiều rủi ro môi trường. Việc quy định mức thu theo từng khu vực biển không chỉ tạo ràng buộc tài chính mà còn góp phần điều tiết hành vi, tăng cường kiểm soát hoạt động này.
Thông tư 18/2026/TT-BNNMT có hiệu lực từ ngày 31/3/2026 đến hết ngày 31/3/2031. Việc phân tầng mức thu, ưu tiên phát triển ngoài khơi và chuẩn hóa chính sách tài chính được kỳ vọng sẽ tạo ra những thay đổi đáng kể trong cách thức khai thác, sử dụng tài nguyên biển, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững.




