Quảng Ngãi chủ động tích trữ nước, ứng phó nguy cơ thiếu nước mùa cạn 2027
Dòng chảy trên lưu vực sông Trà Khúc giảm từ 25-64% so với trung bình nhiều năm, trong khi phần lớn các hồ thủy lợi lớn chưa tích đủ nước. Trước nguy cơ thiếu hụt nguồn nước trong mùa cạn năm 2027, tỉnh Quảng Ngãi cần chủ động điều chỉnh phương án vận hành hồ chứa, kiểm soát lượng nước xả và xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn nước hợp lý.
Dòng chảy suy giảm, nhiều hồ chứa chưa tích đủ nước
Nguy cơ thiếu nước trên lưu vực sông Trà Khúc đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về điều tiết và tích trữ nguồn nước ngay từ những tháng cuối năm 2026. Theo cảnh báo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tại văn bản số 12379/BNNMT-TNN ngày 27/10/2026, nguồn nước trên lưu vực có dấu hiệu suy giảm, trong khi khả năng tích trữ tại nhiều hồ chứa chưa đáp ứng yêu cầu cấp nước cho mùa cạn kéo dài.
Đáng chú ý, trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 8/2026, dòng chảy trên hầu hết các sông, suối thuộc lưu vực Trà Khúc thấp hơn trung bình nhiều năm từ 25-64%. Các đợt mưa lũ nhỏ trong tháng 9 và đầu tháng 10 chưa giúp mực nước tại những hồ chứa lớn cải thiện đáng kể. Dự báo lượng mưa trong những tháng cuối mùa lũ có thể tiếp tục thiếu hụt, làm gia tăng áp lực đối với nguồn nước dự trữ.

Thực tế tại các hồ chứa cho thấy mức tích nước còn thấp. Hồ Nước Trong có mực nước 116,4 m, thấp hơn đáng kể so với mực nước dâng bình thường 129,5 m. Hồ Đakđrinh đạt 375,3 m, trong khi mực nước dâng bình thường là 410 m. Trong số 13 hồ thủy lợi có dung tích thiết kế từ 1 triệu m³ trở lên, phần lớn mới tích trữ dưới 50% dung tích thiết kế.
Những con số này cho thấy khả năng bảo đảm nguồn nước cho các tháng mùa khô tiếp theo đang chịu sức ép lớn. Theo tính toán, mùa cạn năm 2027 kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8, với nhu cầu nước đáng kể cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và hoạt động công nghiệp.
Trong bối cảnh đó, nguồn nước phục vụ hạ du phụ thuộc nhiều vào khả năng điều tiết của các hồ chứa thượng lưu như Nước Trong, Đakđrinh, Núi Ngang và Liệt Sơn. Nếu việc vận hành, xả nước không được tính toán phù hợp với nhu cầu thực tế, lượng nước dự trữ có thể suy giảm nhanh, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cấp nước trong cao điểm mùa khô.
Nguy cơ thiếu nước không chỉ tác động đến sản xuất nông nghiệp mà còn có thể ảnh hưởng đến nguồn cấp nước sinh hoạt tại đô thị, khu dân cư nông thôn và các khu công nghiệp trọng điểm trên địa bàn tỉnh.
Điều tiết liên hồ, hạn chế xả nước vượt nhu cầu
Trước nguy cơ thiếu hụt nguồn nước, yêu cầu đặt ra đối với Quảng Ngãi là xây dựng phương án vận hành hồ chứa linh hoạt, gắn với dự báo dòng chảy và nhu cầu sử dụng nước của từng khu vực.
Trong đó, việc phối hợp vận hành hồ Nước Trong và Đakđrinh có ý nghĩa quan trọng. Thay vì vận hành riêng lẻ từng công trình, cần xem xét tổng thể lượng nước hiện có, khả năng bổ sung nguồn nước và nhu cầu cấp nước cho hạ du để xây dựng kế hoạch điều tiết theo từng giai đoạn.
Mục tiêu là sử dụng hiệu quả nguồn nước, hạn chế tình trạng xả vượt nhu cầu trong thời điểm hạ du chưa cần thiết, đồng thời duy trì lượng dự trữ phục vụ những tháng khô hạn phía trước.
Một vấn đề cần được chú trọng là sự hài hòa giữa nhiệm vụ phát điện và yêu cầu cấp nước. Trên thực tế, nhiều hồ chứa đồng thời thực hiện các nhiệm vụ phát điện, cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu. Tuy nhiên, thời điểm phát điện không phải lúc nào cũng trùng với thời điểm hạ du có nhu cầu sử dụng nước cao.
Đối với các hồ thủy lợi có kết hợp phát điện như Nước Trong và Núi Ngang, cần kiểm soát chặt lượng nước qua nhà máy thủy điện. Khi hạ du chưa phát sinh nhu cầu cấp nước tương ứng, việc xả nước qua phát điện cần được xem xét trên cơ sở phương án vận hành tổng thể, ưu tiên tích trữ nguồn nước nhưng vẫn bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật, an toàn công trình và an ninh hệ thống điện.
Các hồ thủy điện khác trên lưu vực cũng cần rà soát chế độ vận hành, tăng cường phối hợp với các hồ chứa lớn để điều tiết nguồn nước hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, chủ động tích nước không đồng nghĩa với việc bỏ qua nhiệm vụ phòng, chống lũ. Trong mùa mưa, các hồ vẫn phải tuân thủ quy trình vận hành, bảo đảm an toàn công trình và vùng hạ du. Sau mỗi đợt mưa lũ, việc quyết định duy trì mực nước hay tiếp tục tích trữ cần căn cứ vào dự báo thời tiết, lượng mưa và diễn biến dòng chảy, tránh cả hai tình huống xả nước không cần thiết hoặc tích nước làm ảnh hưởng đến khả năng phòng lũ.
Tiết kiệm nước trong sản xuất, ưu tiên cấp nước sinh hoạt
Bên cạnh điều tiết hồ chứa, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng nước tại các công trình thủy lợi là giải pháp quan trọng nhằm giảm áp lực lên nguồn nước trong mùa cạn.
Đối với hệ thống thủy lợi Thạch Nham, lưu lượng cấp vào kênh chính Nam và kênh chính Bắc cần được xác định sát với nhu cầu sử dụng thực tế. Các đơn vị quản lý, vận hành cần phối hợp với hồ chứa thượng lưu để chủ động điều chỉnh lượng nước cấp, hạn chế thất thoát và nâng cao hiệu quả phân phối nước đến các khu vực sản xuất.
Các hệ thống kênh Núi Ngang và Nam Sông Vệ cũng cần rà soát nhu cầu tưới, triển khai tưới luân phiên, áp dụng các biện pháp tiết kiệm nước và điều chỉnh lịch cấp nước phù hợp với khả năng cung ứng. Việc tăng cường quan trắc, giám sát khai thác và dự báo dòng chảy sẽ giúp các đơn vị vận hành chủ động hơn trong phân bổ nguồn nước.
Về lâu dài, ứng dụng công nghệ số trong quản lý, vận hành công trình thủy lợi cần được đẩy mạnh, nhất là tại các hệ thống có vai trò cấp nước quan trọng. Dữ liệu về mực nước hồ, lưu lượng dòng chảy, nhu cầu tưới và tình hình khai thác nước cần được cập nhật thường xuyên để hỗ trợ ra quyết định chính xác, kịp thời.
Cùng với các giải pháp kỹ thuật, điều chỉnh kế hoạch sản xuất nông nghiệp cũng là yêu cầu cần thiết. Trên cơ sở dự báo nguồn nước, tỉnh cần xem xét bố trí mùa vụ hợp lý, chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại những khu vực thường xuyên thiếu nước, đồng thời cân nhắc giảm diện tích gieo trồng ở những vùng không bảo đảm khả năng cấp nước.
Việc chủ động điều chỉnh ngay từ đầu vụ sẽ hạn chế nguy cơ thiếu nước khi cây trồng đã bước vào giai đoạn cần tưới, giảm thiệt hại cho người dân và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nước.
Trong phân bổ nguồn nước, cấp nước sinh hoạt cần được xác định là ưu tiên hàng đầu. Quảng Ngãi cần rà soát phương án cấp nước an toàn cho cả khu vực đô thị và nông thôn; tăng cường kết nối các mạng lưới cấp nước, giảm tỷ lệ thất thoát và chuẩn bị các nguồn dự phòng để ứng phó khi nguồn cấp chính suy giảm.
Đặc biệt, khu vực thành phố Quảng Ngãi trước đây và Khu kinh tế Dung Quất cần được tính toán kỹ về khả năng bảo đảm nguồn nước trong thời gian cao điểm mùa khô. Các công trình khai thác nước từ hệ thống kênh, trong đó có Nhà máy nước Vinaconex Dung Quất và Trạm xử lý nước VSIP Quảng Ngãi, cần được xem xét trong phương án ưu tiên nguồn cấp phục vụ sinh hoạt.
Đối với các khu công nghiệp Quảng Phú, Hòa Bình, Sao Mai, Khu kinh tế Dung Quất và những cơ sở sản xuất có nhu cầu sử dụng nước lớn, cần đánh giá cụ thể khả năng đáp ứng nguồn nước trong mùa cạn. Các doanh nghiệp cần chủ động xây dựng phương án tiết giảm lượng nước sử dụng, tăng cường tuần hoàn, tái sử dụng nước và hạn chế thất thoát trong quá trình sản xuất.
Song song với đó, cần kiểm tra các công trình cấp nước tập trung, xác định những hồ chứa có khả năng bổ sung nguồn nước sinh hoạt, rà soát và chuẩn bị các giếng khoan dự phòng. Việc tăng cường kết nối giữa các vùng cấp nước, huy động công suất của những công trình còn khả năng khai thác và bảo đảm nguồn điện cho hoạt động sản xuất nước sạch sẽ góp phần nâng cao năng lực ứng phó khi xảy ra thiếu nước.
Xây dựng kịch bản nguồn nước, chủ động ứng phó từ sớm
Để nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nước trên lưu vực sông Trà Khúc, việc xây dựng kịch bản nguồn nước có ý nghĩa quan trọng, giúp các cơ quan quản lý và đơn vị khai thác chủ động điều hành trước khi tình trạng thiếu nước trở nên nghiêm trọng.
Theo yêu cầu đặt ra, tỉnh Quảng Ngãi cần tăng cường chia sẻ dữ liệu với cơ quan quản lý tài nguyên nước để phục vụ xây dựng, công bố kịch bản nguồn nước trên lưu vực. Trên cơ sở đó, việc điều hòa, phân phối nguồn nước có thể được triển khai theo từng giai đoạn, phù hợp với diễn biến thời tiết, lượng nước tích trữ và nhu cầu sử dụng của các ngành, lĩnh vực.
Cùng với việc cập nhật dữ liệu nguồn nước, công tác quản lý hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước cần được thực hiện chặt chẽ hơn. Việc đôn đốc kê khai, đăng ký và cấp phép khai thác nước sẽ giúp cơ quan chức năng nắm rõ hiện trạng sử dụng, xác định nhu cầu thực tế và có cơ sở phân bổ nguồn nước hợp lý khi xảy ra hạn hán.
Trong bối cảnh dòng chảy suy giảm, nhiều hồ chứa chưa tích đủ nước và nguy cơ thiếu hụt lượng mưa còn hiện hữu, việc chuẩn bị phương án ứng phó từ cuối năm 2026 có ý nghĩa quyết định đối với khả năng bảo đảm nguồn nước trong mùa cạn năm 2027.
Chủ động tích trữ, điều tiết liên hồ, tiết kiệm nước trong sản xuất và ưu tiên cấp nước sinh hoạt cần được triển khai đồng bộ, thay vì chỉ tập trung ứng phó khi hạn hán đã xảy ra. Đây là giải pháp quan trọng để Quảng Ngãi giảm thiểu rủi ro thiếu nước, bảo đảm đời sống dân sinh và duy trì hoạt động sản xuất trên lưu vực sông Trà Khúc.




