Hành trình 80 năm hạt gạo Việt chinh phục thế giới
Từ một đất nước thiếu đói, Việt Nam đã góp mặt trong chuỗi cung ứng lương thực toàn cầu, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, đồng thời ghi danh trên bản đồ nông nghiệp thế giới.
Trải qua 80 năm, từ một nước thuộc địa nghèo nàn, nông nghiệp lạc hậu, từng phải đối mặt với nạn đói thảm khốc, Việt Nam ngày nay đã vươn mình trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Hạt gạo, hạt cà phê, hạt tiêu, hạt điều, con tôm, con cá tra… không chỉ là sản phẩm thương mại, mà còn là minh chứng sinh động cho ý chí vươn lên, trí tuệ sáng tạo và bản lĩnh của người nông dân, nhà khoa học cùng sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước.
Những cột mốc lịch sử trên con đường đổi mới nông nghiệp
Trong ký ức nhiều người Việt Nam, hạt gạo vẫn được coi là “ngọc thực” bởi những ám ảnh khó khăn, thiếu đói kéo dài suốt nhiều năm tháng.
Giai đoạn 1945 - 1954 là thời kỳ đầu tiên xây dựng nền kinh tế mới ở Việt Nam, đồng thời cũng là giai đoạn gian khổ nhất trong lịch sử phát triển đất nước. Trong bối cảnh vừa giành được chính quyền, lại phải bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, nhiệm vụ xây dựng và cải tạo nền kinh tế được triển khai trong điều kiện hết sức khó khăn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã từng bước chuyển đổi nền kinh tế tàn dư của chế độ thực dân, phong kiến vốn lạc hậu, lệ thuộc, thành một nền kinh tế dân chủ, độc lập, phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Từ năm 1955 - 1975, đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai mô hình kinh tế - xã hội khác nhau. Ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế phù hợp với từng thời kỳ, từ khôi phục và hàn gắn vết thương chiến tranh (1955 - 1957), đến hoàn thành cải cách ruộng đất, cải tạo quan hệ sản xuất theo định hướng XHCN (1958 - 1960), rồi chuyển sang phát triển kinh tế kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ xây dựng hậu phương lớn cho tiền tuyến miền Nam trong điều kiện chiến tranh khốc liệt (1961 - 1975).
Giai đoạn 1976 - 1985, sau khi đất nước thống nhất, cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây là thời kỳ mà công cuộc cải tạo, xây dựng và phát triển kinh tế được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Nhân dân cả nước tích cực triển khai kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976 - 1980) và kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981 - 1985). Tuy đã đạt được một số kết quả bước đầu trong khôi phục sản xuất và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, nhưng nhìn chung nền kinh tế vẫn còn nhiều yếu kém. Những hạn chế của cơ chế quản lý tập trung, bao cấp kéo dài, cùng những khó khăn từ bên ngoài đã khiến nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, mất cân đối, thậm chí có những biểu hiện của khủng hoảng nghiêm trọng.
Trước yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, từ năm 1986, Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Với việc từng bước xóa bỏ cơ chế bao cấp, phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến tích cực. Đến năm 1995, các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm (1991 - 1995) đều hoàn thành và vượt mức, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo đà chuyển sang giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nhìn lại chặng đường 80 năm qua, Tiến sỹ Đặng Kim Sơn - Viện Nghiên cứu thị trường và Thế chế nông nghiệp, nhấn mạnh: “Từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh và bao vây, cấm vận, Việt Nam từng bước vươn lên trở thành một quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình. Năm 1989, lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu gạo ra thế giới. Và hạt gạo nhỏ bé cũng chính là loại nông sản đầu tiêu ghi dấu tên tuổi của Việt Nam trên trường quốc tế, mở đường cho hàng loạt nông sản Việt Nam sau này nối tiếp hành trình và sứ mệnh của một cường quốc xuất khẩu nông sản”.
Vươn lên thành cường quốc nông sản
Từ nền tảng an ninh lương thực, nông nghiệp Việt Nam đã bứt phá mạnh mẽ trên trường quốc tế. Ngành trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản đều ghi dấu những thành tựu vượt bậc:
Việt Nam đứng số 1 thế giới về xuất khẩu hạt điều, thứ 2 về gạo và cà phê, thứ 3 về rau quả, thứ 4 về thủy sản.

Ngành chăn nuôi có quy mô ấn tượng: đàn heo lớn thứ 6 thế giới, sản lượng đứng thứ 7; chăn nuôi thủy cầm đứng thứ 2 toàn cầu, chỉ sau Trung Quốc.
Thủy sản trở thành ngành hàng xuất khẩu chủ lực, mang về hàng chục tỷ USD mỗi năm, đóng góp gần 25% GDP của toàn ngành nông nghiệp.
TS. Nguyễn Xuân Dương – Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam, nhấn mạnh: “Ngành chăn nuôi và công nghiệp chế biến của Việt Nam hiện đã có thứ hạng đáng kể trên bản đồ thế giới, là kết quả nỗ lực vượt bậc của một quốc gia nhỏ nhưng đầy khát vọng.”
Không chỉ chú trọng số lượng, Việt Nam đã chuyển mạnh sang nông sản chất lượng cao, xây dựng thương hiệu quốc gia: Gạo ST25, cà phê đặc sản, tôm hữu cơ, trái cây chế biến sâu… Các sản phẩm này đã chinh phục được những thị trường khó tính như EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2024, quy mô nền kinh tế Việt Nam xếp thứ 32 thế giới, thuộc nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Trong đó, nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò quan trọng, vừa là trụ đỡ của nền kinh tế, vừa khẳng định vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Nông nghiệp trong kỷ nguyên mới
Thành quả hôm nay có được từ tầm nhìn chính sách: Đảng và Nhà nước luôn xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Nghị quyết 19 (2022) và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đã khẳng định: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nền tảng, lực lượng quan trọng cho sự phát triển đất nước.

Trong kỷ nguyên chuyển đổi số, nông nghiệp Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia hàng đầu về chế biến, xuất khẩu nông sản, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường, giảm phát thải và ứng dụng công nghệ cao.
PGS.TS Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nhận định: “Khoa học công nghệ và thể chế là đòn bẩy giúp nông nghiệp Việt Nam bứt phá, không chỉ bảo đảm an ninh lương thực mà còn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.”
Động lực của những bước tiến ấy đến từ tư duy mới trong chính sách: Xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, chuyển từ tư duy sản xuất sang kinh tế nông nghiệp. Nghị quyết số 19 (16/6/2022) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn 2045, cùng Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững đặt mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia hàng đầu về chế biến, xuất khẩu nông sản, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường, giảm phát thải, ứng dụng khoa học–công nghệ và chuyển đổi số.
Ngày nay, Việt Nam không chỉ bảo đảm an ninh lương thực cho hơn 100 triệu dân mà còn đứng trong nhóm quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới về gạo, cà phê, hạt điều, hồ tiêu, thủy sản. Đó là minh chứng cho sức bật mạnh mẽ của một nền nông nghiệp từng đứng trước bờ vực khủng hoảng, nay đã trở thành trụ cột kinh tế quốc gia.