Từ chính quyền non trẻ đến quốc gia uy tín toàn cầu: Hành trình 80 năm độc lập
Từ chính quyền cách mạng non trẻ năm 1945 đến một quốc gia năng động, hội nhập sâu rộng ngày nay, hành trình 80 năm giành độc lập là chặng đường của ý chí, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam. Những thành tựu to lớn đạt được không chỉ minh chứng cho đường lối đúng đắn của Đảng mà còn khẳng định khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, lần đầu tiên nhân dân ta giành chính quyền về tay mình, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Đây là thắng lợi có ý nghĩa “long trời lở đất”, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Từ Cách mạng Tháng Tám đến Đại thắng mùa Xuân 1975
Sau thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh đầy cam go, thách thức. Chính quyền cách mạng còn non trẻ phải đối diện với muôn vàn khó khăn, hiểm nguy, đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài đan xen. Giai đoạn 1945 - 1946, Đảng và Bác Hồ đã lãnh đạo toàn dân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: Xây dựng chính quyền cách mạng và bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/01/1946 được tổ chức thành công, Quốc hội khóa I ra đời; Hiến pháp dân chủ đầu tiên được ban hành; chính quyền cách mạng không ngừng củng cố; các phong trào xóa nạn mù chữ, diệt “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm” được phát động sôi nổi; các thế lực phản cách mạng bị trấn áp. Trước âm mưu xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp, đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến”. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, kết hợp giữa đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đánh bại từng bước các chiến lược của thực dân Pháp, đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 - một bản anh hùng ca vĩ đại, “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.

Tuy nhiên, sau đó đế quốc Mỹ can thiệp sâu hơn vào miền Nam, thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên quyết thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc - xây dựng hậu phương lớn cho cả nước, và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam - đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trải qua 21 năm trường kỳ, gian khổ và oanh liệt (1954 - 1975), Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân hai miền đất nước giành thắng lợi từng bước trước các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ. Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa nỗ lực phục hồi và phát triển kinh tế, thực hiện nghĩa vụ hậu phương lớn, không ngừng chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau ba thập kỷ tiếp tục trường kỳ kháng chiến, miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối. Hội nghị Trung ương 24 (tháng 9/1975) xác định nhiệm vụ hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước. Ngày 25/4/1976, hơn 23 triệu cử tri (98,8% tổng số) tham gia Tổng Tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước. Tại kỳ họp đầu tiên, Quốc hội quyết nghị đặt tên nước là Cộng hòa XHCN Việt Nam, Quốc kỳ là cờ đỏ sao vàng, Quốc ca là “Tiến quân ca”, Quốc huy mang dòng chữ “Cộng hòa XHCN Việt Nam”, quyết định Hà Nội là Thủ đô và đổi tên Thành phố Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh.
Việc hoàn tất thống nhất đất nước về mặt nhà nước đã tạo điều kiện chính trị căn bản để huy động, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, mở đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời đại mới; khẳng định quyền tự quyết của Nhân dân Việt Nam trên con đường kiên định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, hùng cường.
Đổi mới toàn diện, đưa đất nước phát triển và hội nhập
Mười năm sau thống nhất (1975 - 1985) là giai đoạn đầy thử thách. Đó là thời kỳ Đảng ta từng bước tìm tòi con đường đổi mới, tư duy phát triển dần được hình thành từ thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu cũng như những khó khăn, hạn chế trong thời kỳ này đã để lại những bài học quý báu, đặt nền móng tư tưởng và thực tiễn cho công cuộc Đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng từ năm 1986.
Trong khoảng thời gian đó, đất nước ta liên tục phải đối mặt với muôn vàn khó khăn: Khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống Nhân dân, xây dựng nền kinh tế độc lập, đồng thời vừa bảo vệ biên giới, chủ quyền, vừa giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng. Nước ta còn bị bao vây, cấm vận, trong khi cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế. Trong bối cảnh ấy, Đảng vẫn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết, vượt qua trở lực, nhanh chóng khôi phục kinh tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và chủ quyền quốc gia, tạo nền tảng cho đổi mới tư duy phát triển.

Trước yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, từ năm 1986, Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Với việc từng bước xóa bỏ cơ chế bao cấp, phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến tích cực. Đến năm 1995, các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm (1991 - 1995) đều hoàn thành và vượt mức, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo đà chuyển sang giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh và bao vây, cấm vận, Việt Nam từng bước vươn lên trở thành một quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình. Tính đến năm 2024, quy mô nền kinh tế Việt Nam xếp thứ 32 thế giới, thuộc nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Thành quả ấy là minh chứng sinh động cho tầm vóc, trí tuệ và bản lĩnh của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong hành trình vượt qua khó khăn, khơi dậy nội lực, tranh thủ thời cơ, hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững.
Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên ngày càng sáng tỏ
Ngay từ khi thành lập (2/1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên định con đường XHCN. Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định mục tiêu chiến lược “làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập” để “tiến tới xã hội cộng sản”. Luận cương tháng 10/1930 chỉ rõ: Cách mạng Việt Nam “bỏ qua giai đoạn tư bản, trực tiếp tiến lên CNXH”. Thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền CNXH, Nhân dân làm chủ xã hội và chính cuộc sống của mình.
Tại Đại hội II (tháng 2/1951), Luận cương cách mạng Việt Nam lần đầu tiên trình bày những điều kiện và phương hướng quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trải qua hai thập kỷ chiến tranh giải phóng và kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, nhận thức đó tiếp tục được củng cố và phát triển. Đổi mới toàn diện do Đại hội VI (1986) khởi xướng đã được lý luận hóa bằng việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng trong nước, đặt nền tảng cho tư duy mới về thời kỳ quá độ.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội VII (tháng 6/1991) thông qua và Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội XI phê chuẩn tiếp tục hoàn thiện lý luận, xác định 8 đặc trưng cơ bản của CNXH, làm rõ hơn về dân chủ, quyền làm chủ của Nhân dân, phát triển nhanh và bền vững, coi con người và văn hóa là nền tảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết gắn với hội nhập quốc tế.
Từ Đại hội VII đến XIII, đường lối đổi mới tiếp tục khẳng định: kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời đổi mới đồng bộ, toàn diện, giữ vững định hướng XHCN. Thành quả gần bốn thập kỷ đổi mới chứng minh tính đúng đắn, sáng tạo của con đường XHCN ở Việt Nam: kinh tế tăng trưởng khá cao, đời sống Nhân dân cải thiện, vị thế quốc tế nâng cao. Đây là minh chứng cho sự phát triển ngày càng sáng tỏ của nhận thức lý luận về CNXH và thời kỳ quá độ dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Hệ thống chính sách xã hội được xây dựng và ngày càng hoàn thiện
Nhận thức của Đảng, Nhà nước và Nhân dân về vai trò văn hóa ngày càng đầy đủ, đưa sự nghiệp xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đạt nhiều kết quả quan trọng. Đời sống văn hóa phong phú, giá trị truyền thống được phát huy, chuẩn mực mới được hình thành; sản phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật đa dạng, công nghệ thông tin và truyền thông phát triển mạnh. Phong trào văn hóa lan tỏa rộng, xã hội hóa ngày càng sâu, nhiều di sản văn hóa được bảo tồn, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được quan tâm. Công tác quản lý nhà nước, thể chế văn hóa hoàn thiện hơn; đội ngũ làm văn hóa, văn nghệ trưởng thành, quyền sáng tạo được tôn trọng, hợp tác quốc tế mở rộng.

Từ 1986 đến nay, chính sách xã hội đạt nhiều thành tựu, góp phần giữ ổn định chính trị - xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân. Đảng khẳng định tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển vì con người, coi con người là trung tâm. Chính sách xã hội nhân văn, vì hạnh phúc Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển, hướng tới hệ thống an sinh xã hội toàn diện, bền vững, bảo đảm thu nhập, việc làm, sức khỏe, giáo dục, nhà ở và dịch vụ cơ bản cho mọi người, khẳng định bản chất ưu việt của chế độ.
Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tạo môi trường hòa bình cho phát triển. 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta kiên quyết giữ vững chủ quyền biên giới, biển đảo; xử lý linh hoạt, sáng tạo các vấn đề quốc phòng – an ninh; làm thất bại âm mưu chống phá, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự xã hội. Thế trận quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân ngày càng vững chắc; lực lượng vũ trang chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Việt Nam kiên định đường lối quốc phòng toàn dân, hòa bình, tự vệ, không liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ, không sử dụng hay đe dọa vũ lực. Đường lối này nâng cao vị thế quốc tế, khẳng định Việt Nam là quốc gia yêu chuộng hòa bình, có trách nhiệm trong hợp tác quốc phòng – an ninh. Trước các thách thức phi truyền thống, chúng ta nâng cao năng lực ứng phó, huy động sức mạnh toàn dân, giữ vững ổn định và tạo nền tảng vững chắc cho phát triển. Thành tựu lớn nhất không chỉ là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mà còn giữ vững định hướng XHCN, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, khẳng định bản lĩnh và trí tuệ dân tộc trong thời đại mới.
Công tác đối ngoại góp phần giữ vững hòa bình, độc lập và phát triển
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối đối ngoại độc lập, mềm dẻo, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế để bảo vệ chính quyền cách mạng. Trong kháng chiến chống Pháp, ngoại giao Việt Nam kiên trì “lấy chính nghĩa thắng cường quyền”, kết hợp quân sự, chính trị, ngoại giao, tạo dư luận ủng hộ rộng rãi.
Từ đầu thập niên 1950, đối ngoại được triển khai đồng bộ qua ba kênh bổ trợ lẫn nhau: Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Cơ chế phối hợp liên hoàn ấy đã làm phong phú phương thức vận động quốc tế, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và sau đó là công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bước vào thời kỳ đổi mới, Đại hội VII (1991) xác lập phương châm “đa phương hóa, đa dạng hóa”, khẳng định Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước. Các Đại hội sau tiếp tục nhấn mạnh đường lối độc lập, tự chủ, rộng mở, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc và hòa bình, hợp tác, phát triển làm trọng tâm.
Nhờ kiên định đường lối đó, Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với các đối tác then chốt, gia nhập ASEAN, WTO, CPTPP, ký EVFTA, RCEP; thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 nước, nâng cấp nhiều quan hệ lên đối tác chiến lược và toàn diện; hợp tác với toàn bộ G7, 5 nước Ủy viên Thường trực HĐBA LHQ và hầu hết G20; khẳng định uy tín trên các diễn đàn đa phương; tham gia gìn giữ hòa bình, thúc đẩy ngoại giao kinh tế, văn hóa. Những thành tựu này góp phần duy trì môi trường hòa bình, bảo vệ chủ quyền, thúc đẩy phát triển đất nước.
Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam), đặt nền móng đầu tiên cho chế độ nhà nước kiểu mới ở nước ta - Nhà nước pháp quyền XHCN.
Bản Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước ta - thể hiện rõ yêu cầu về một nhà nước dân chủ, pháp quyền. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền đã được khẳng định ngay từ thời điểm đó: Chủ quyền lập hiến thuộc về Nhân dân; bộ máy nhà nước phải là công cụ thực hiện ý chí, nguyện vọng của Nhân dân; cán bộ, công chức không được là “ông quan cách mạng” mà phải là “công bộc của dân”, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phục vụ. Pháp luật không phải công cụ trừng trị mà là phương tiện bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân.

Tư tưởng cốt lõi đó đã được Đảng kế thừa và từng bước hoàn thiện trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng. Đại hội VII của Đảng (năm 1991) và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã lần đầu tiên xác định những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN: Quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công rõ ràng giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994) chính thức đưa nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN vào văn kiện Đảng. Các Đại hội IX (2001), X (2006) tiếp tục khẳng định và bổ sung nội dung này.
Đến Đại hội XI (năm 2011), Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định: Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Những định hướng này được cụ thể hóa trong Hiến pháp năm 2013 và nhiều đạo luật quan trọng về tổ chức bộ máy nhà nước. Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) tiếp tục khẳng định rõ: Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc đổi mới hệ thống chính trị.
Qua các kỳ Đại hội, cùng với thực tiễn lãnh đạo, nhận thức và tư duy lý luận của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam ngày càng được bổ sung, phát triển toàn diện và sâu sắc hơn. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không chỉ tiếp thu các giá trị tiến bộ chung của nhân loại, mà còn mang những đặc trưng phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện đầy đủ những nguyên lý căn bản của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, từ bản chất, nguyên tắc tổ chức, cơ cấu vận hành, phân công quyền lực nhà nước đến vai trò của pháp luật trong xã hội và sự lãnh đạo của Đảng.
Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt được những kết quả hết sức quan trọng. Nhận thức lý luận về mô hình nhà nước này ngày càng đầy đủ, thống nhất hơn. Hệ thống pháp luật được xây dựng ngày càng đồng bộ, thống nhất, bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn. Vai trò của pháp luật và việc thực thi pháp luật được coi trọng trong hoạt động của cả hệ thống chính trị và đời sống xã hội.
Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ngày càng rõ ràng và hiệu quả hơn. Bộ máy nhà nước được tổ chức tinh gọn, hoạt động ngày càng hiệu lực, hiệu quả. Quốc hội tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động, nâng cao chất lượng lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Chính phủ tích cực, chủ động trong điều hành, tập trung quản lý vĩ mô, cải cách hành chính, tháo gỡ điểm nghẽn, phục vụ phát triển đất nước. Cải cách tư pháp được đẩy mạnh; các cơ quan tư pháp từng bước được hoàn thiện về tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động, bảo đảm nguyên tắc pháp quyền trong xét xử và thực thi công lý. Các quyền con người, quyền công dân được hiến định và ngày càng được cụ thể hóa bằng pháp luật và triển khai hiệu quả trên thực tế. Dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp tiếp tục được phát huy. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội từng bước đổi mới phương thức hoạt động, đóng góp thiết thực vào việc thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân.
Mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam với nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” đang ngày càng hoàn thiện, trở thành nền tảng vững chắc góp phần vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
80 năm đã trôi qua, tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn vẹn nguyên giá trị, là nguồn cảm hứng và sức mạnh tinh thần to lớn trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Những bài học, giá trị và tinh thần của sự kiện trọng đại này vẫn luôn trường tồn cùng dân tộc; là điểm tựa tinh thần vững chắc cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vững bước trên hành trình xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng.