Nước và cuộc sống

Những “sứ giả nước sạch” trong cộng đồng

Thu Trinh 09:21 18/03/2026

Trong mỗi gia đình, phụ nữ thường trực tiếp chăm lo bữa ăn, giữ gìn vệ sinh và quản lý nguồn nước sinh hoạt. Không chỉ vậy, ở nhiều cộng đồng, họ còn trở thành những “sứ giả nước sạch”, kiên trì lan tỏa thông điệp tiết kiệm nước và bảo vệ môi trường.

nc-sach1.jpg

Nhân dịp Ngày Nước thế giới (22/3) với chủ đề “Nước và bình đẳng giới”, câu chuyện về những người phụ nữ âm thầm gìn giữ nguồn nước càng trở nên ý nghĩa.

Những thay đổi bắt đầu từ điều nhỏ nhất

Tại nhiều địa phương, các hoạt động truyền thông về nước sạch và vệ sinh môi trường thường được triển khai thông qua các tổ chức cộng đồng, đặc biệt là Hội Liên hiệp Phụ nữ và các tổ dân phố. Chính những người phụ nữ gần gũi với từng gia đình đã trở thành cầu nối giúp thay đổi nhận thức của người dân.

Từ các buổi sinh hoạt tổ dân phố, những buổi truyền thông tại trường học đến những lần hướng dẫn trực tiếp tại từng hộ gia đình, thông điệp sử dụng nước tiết kiệm, giữ gìn vệ sinh môi trường nơi sinh sống – đặc biệt là các dòng sông, suối, mương máng – dần trở thành thói quen trong cộng đồng.

Không ít phụ nữ đã dành nhiều năm kiên trì vận động người dân thay đổi những thói quen tưởng chừng rất nhỏ như khóa vòi nước sau khi sử dụng, tái sử dụng nước sinh hoạt hay hạn chế xả thải ra nguồn nước tự nhiên. Họ đang là những “người giữ nguồn nước” thầm lặng, được nhắc đến như một lực lượng quan trọng trong hành trình bảo vệ tài nguyên quý giá của quốc gia.

anh-0.jpg

Mỗi buổi sáng, trước khi bắt đầu công việc gia đình, bà Đàm Thị Đức – Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ tổ dân phố số 1, phường Quán Triều, tỉnh Thái Nguyên, lại đạp xe ra nhà văn hóa xem người dân trong khu phố có ra tập thể dục, chơi thể thao đông đủ hay không. Trước khi quay về, bà thường tranh thủ đạp xe một vòng quanh khu phố mình phụ trách để kiểm tra xem có ai vứt rác ra đường hoặc để rác không đúng nơi quy định hay không.

Công việc tưởng chừng rất nhỏ ấy của bà Đức đã được duy trì đều đặn suốt hơn 5 năm qua, góp phần giúp cả cộng đồng dần thay đổi thói quen sinh hoạt.

Trước khi đảm nhận vai trò chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ tổ dân phố số 1, bà Đức từng làm việc tại một nhà máy giấy trên địa bàn. Hàng chục năm gắn bó với hoạt động của nhà máy đã giúp bà hiểu rõ những tác động của sản xuất giấy đối với môi trường, đặc biệt là việc tiêu thụ tài nguyên như nước, gỗ, phế liệu và phát thải ra môi trường.

Chính những kiến thức và trải nghiệm ấy đã giúp bà, sau khi nghỉ hưu, tiếp tục phát huy vai trò của mình trong việc tuyên truyền, vận động người dân giữ gìn môi trường sống xanh, sạch, đẹp.

“Cũng nhờ những năm công tác ở nhà máy giấy nên khi được bà con trong khu dân cư tín nhiệm bầu làm Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ tổ dân phố số 1, tôi đặt mục tiêu làm sao để mọi người trong khu phố cùng hưởng ứng, tự giác thực hiện. Muốn vậy phải gây quỹ hoạt động. Có quỹ thì mọi người mới gắn kết với nhau hơn”, bà Đức tâm sự.

Từ suy nghĩ đó, bà Đức cùng các hội viên xây dựng một kế hoạch cụ thể. Tuy nhiên, ban đầu không phải ai cũng đồng tình. Nhiều người băn khoăn về nguồn tiền gây quỹ và cách sử dụng quỹ sau này.

Nhưng khi bà Đức giải thích rằng quỹ sẽ được hình thành từ việc thu gom và bán phế liệu, mọi người dần ủng hộ.

“Tôi vận động bà con đừng vứt phế liệu ra ngoài mà tích lại, dồn vào một chỗ. Mỗi tháng, chi hội sẽ tổ chức thu gom và bán phế liệu để gây quỹ. Ngoài ra, để có khoản hỗ trợ chị em có hoàn cảnh khó khăn hoặc hộ nghèo vay phát triển kinh tế, chúng tôi tiết kiệm thêm tiền đóng quỹ. Mỗi tháng chỉ 5.000 đồng thôi, nhưng nhiều người góp lại cũng thành khoản giúp chị em phát triển kinh tế gia đình. Nhờ vậy, quan hệ láng giềng cũng trở nên thân thiết hơn”, bà Đức kể.

anh.jpg

Không dừng lại ở việc vận động thu gom phế liệu gây quỹ, bà Đức còn kêu gọi các mạnh thường quân hỗ trợ đầu tư máy tập thể dục, làm sân bóng chuyền để người dân nâng cao sức khỏe.

Theo bà Đức, giờ đây nhà văn hóa tổ dân phố đã trở thành nơi đông vui nhất trong khu.

“Sáng sớm, người cao tuổi ra tập dưỡng sinh; người trung niên chơi bóng chuyền, pickleball; còn buổi chiều, các cháu nhỏ lại ra đá bóng. Ai cũng có ý thức giữ gìn nên nhà văn hóa lúc nào cũng sạch đẹp và náo nhiệt”, bà chia sẻ.

Sau 5 năm Chi hội Phụ nữ tổ dân phố số 1 đi vào hoạt động dưới sự dẫn dắt của bà Đức, diện mạo khu phố đã thay đổi rõ rệt. Đường phố khang trang, sạch sẽ hơn; tình trạng vứt rác bừa bãi hầu như không còn.

Người dân dần hình thành thói quen phân loại rác, cứ đến ngày 15 hằng tháng lại tập trung bán phế liệu để gây quỹ, hỗ trợ nhau phát triển kinh tế.

Nhận thấy lợi ích từ việc thu gom và tái chế phế thải, người dân cũng nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Đường làng, ngõ xóm trở nên sạch sẽ, gọn gàng hơn.

Trong mỗi lần đi tuyên truyền bảo vệ môi trường, bà Đức luôn lồng ghép các nội dung về sử dụng nước tiết kiệm, bảo vệ nguồn nước ngầm và giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn. Nhờ đó, phong trào “5 không, 3 sạch” trong khu phố ngày càng phát triển mạnh mẽ.

Nói về khen thưởng, bà Đức cho biết tập thể tổ dân phố nhiều năm liền nhận được giấy khen của phường, của thành phố và của Hội Nước sạch và Môi trường tỉnh Thái Nguyên. Đặc biệt, phong trào “5 không, 3 sạch” của tổ dân phố được thành phố đánh giá rất cao.

Nhận xét về bà Đàm Thị Đức, ông Hoàng Cường Quốc – Chủ tịch Hội Nước và Môi trường tỉnh Thái Nguyên cho biết:

“Bà Đức là cán bộ phụ nữ nhiều năm gắn bó với công tác bảo vệ môi trường. Dù đã nghỉ hưu nhưng bà vẫn rất tích cực tham gia các hoạt động xã hội ở địa phương. Gia đình bà luôn gương mẫu thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà nước và là tấm gương để nhiều người noi theo.”

Câu chuyện của bà Đức cũng là câu chuyện của hàng nghìn phụ nữ Việt Nam đang âm thầm góp sức bảo vệ môi trường và gìn giữ nguồn nước.

Những năm qua, Hội Nước và Môi trường tỉnh Thái Nguyên luôn đẩy mạnh tuyên truyền về nước sạch và bảo vệ môi trường; vận động cộng đồng cải thiện nguồn nước, tư vấn kỹ thuật và hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận nước an toàn. Công tác nâng cao nhận thức được triển khai thường xuyên, gắn với các phong trào như Ngày Nước thế giới, Ngày Môi trường thế giới…, tạo hiệu ứng xã hội tích cực.

Đến nay, Hội đã hỗ trợ xây dựng 20 nhà máy cấp nước mới, góp phần nâng cao độ bao phủ dịch vụ nước sạch, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt trên 97% tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch; hơn 98% trường học và cơ sở y tế có nguồn nước đạt tiêu chuẩn.

Khi phụ nữ trở thành “cầu nối” thay đổi nhận thức

Các báo cáo môi trường gần đây cho thấy Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến tài nguyên nước.

anh-2.jpg

Ở khu vực nông thôn, dù tỷ lệ người dân sử dụng nước hợp vệ sinh đã tăng đáng kể trong những năm gần đây, việc vận động cộng đồng chuyển sang sử dụng nước sạch vẫn là một hành trình dài. Trong quá trình ấy, những người trực tiếp góp phần làm thay đổi nhận thức lại chính là phụ nữ. Ở nhiều gia đình, họ giữ vai trò quyết định trong việc sử dụng nước hằng ngày – từ giặt giũ, nấu ăn đến vệ sinh nhà cửa. Khi nhận thức thay đổi, các thói quen tích cực cũng dần hình thành: sử dụng nước tiết kiệm hơn, tận dụng nước mưa hợp lý và hạn chế lãng phí trong sinh hoạt.

Một trong những tấm gương có ảnh hưởng tích cực trong hành trình tuyên truyền, vận động người dân sử dụng nước sạch là chị Hà Thị Đảm, nhân viên kế toán Nhà máy nước sạch Đông Lỗ (Bắc Giang).

dam.jpg

Sinh ra và lớn lên ở nông thôn, lại từng có thời gian sinh sống, làm việc tại Hà Nội, chị Đảm có điều kiện trải nghiệm và so sánh giữa việc sử dụng nguồn nước tự nhiên với nước sạch đã qua xử lý. Vì vậy, khi được giao thêm nhiệm vụ phát triển thị trường, mỗi lần xuống cơ sở tuyên truyền, vận động người dân sử dụng nước sạch trong ăn uống, sinh hoạt, chị không cảm thấy bỡ ngỡ. Tuy nhiên, không phải ai cũng sẵn sàng thay đổi ngay từ những lần vận động đầu tiên.

“Để thay đổi tư duy và nhận thức của người dân về việc sử dụng nước sạch cần thời gian, thậm chí là cả một quá trình trải nghiệm và kiểm chứng trong thực tế”, chị Đảm chia sẻ.

Theo chị, địa bàn phụ trách chủ yếu là nông dân – những người từ lâu đã quen dùng nước giếng khoan, giếng khơi hoặc nước mưa cho sinh hoạt, khi được vận động chuyển sang sử dụng nước sạch từ nhà máy, không ít người còn băn khoăn, thậm chí nghi ngại. Có người cho rằng nước máy được lấy từ nước mặt ở sông, trong khi nguồn nước họ đang dùng lại được khai thác từ sâu trong lòng đất trong khi có người e dè vì phải chi trả thêm khoản tiền hằng tháng. Trước những tâm lý đó, chị kiên trì giải thích, đưa ra dẫn chứng và số liệu cụ thể, thậm chí cung cấp các chứng nhận về chỉ tiêu vật lý, hóa học, vi sinh – những thông số đánh giá chất lượng nước sinh hoạt đạt quy chuẩn do Bộ Y tế ban hành. Đồng thời, chị lấy chính thực tế sử dụng làm minh chứng: thiết bị sinh hoạt bền hơn, ít đóng cặn khi đun nấu, hệ thống đường ống giảm tình trạng tắc nghẽn… Qua thời gian, những lợi ích thiết thực ấy đã giúp người dân dần thay đổi cách nhìn nhận.

“Các xã Đông Lỗ, Đoan Bái và Lương Phong đều là vùng nông thôn, người dân lâu nay chủ yếu dùng nước giếng cho sinh hoạt và sản xuất. Vì thế, tôi lựa chọn cách phân tích phù hợp với điều kiện thực tế, khuyên bà con sử dụng song song hai nguồn nước: nước máy cho ăn uống, nước giếng cho trồng trọt, chăn nuôi. Cách làm này vừa đảm bảo an toàn sức khỏe, vừa giảm chi phí”, chị Đảm cho biết.

Không chỉ tuyên truyền về sử dụng nước sạch, chị còn vận động người dân nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường, không vứt rác bừa bãi gây ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm, đồng thời khuyến khích phân loại rác để tận dụng tài nguyên từ phế liệu, phế thải.

anh-1.jpg

Cũng như chị Đảm, chị Trần Thị Huyền – nhân viên Công ty nước sạch Hiệp Hòa đã vận dụng kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm sống để tuyên truyền, phổ biến các biện pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước tới người dân trong khu vực. Những nỗ lực bền bỉ ấy đã nhận được sự đồng thuận và hưởng ứng tích cực từ cộng đồng.

Nhiều mô hình truyền thông cộng đồng do phụ nữ khởi xướng đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Ở một số địa phương, các câu lạc bộ “Gia đình sử dụng nước tiết kiệm” được thành lập, thu hút đông đảo hội viên tham gia. Những mô hình nhỏ này không chỉ giúp giảm chi phí sinh hoạt mà còn góp phần bảo vệ nguồn nước.

Điểm chung của những phụ nữ làm công tác truyền thông môi trường là sự kiên trì. Thay đổi thói quen của cả cộng đồng không thể diễn ra trong một sớm một chiều.

Có người đã dành hàng chục năm đi từng ngõ, gõ từng nhà để tuyên truyền về nước sạch và vệ sinh môi trường. Những nỗ lực thầm lặng ấy đã góp phần tạo nên sự thay đổi bền vững. Bởi hơn ai hết, họ hiểu rằng bảo vệ nguồn nước chính là bảo vệ sức khỏe của gia đình và tương lai của thế hệ sau.

Ở nhiều vùng nông thôn, nguồn nước sinh hoạt của người dân vẫn phụ thuộc vào suối, giếng đào hoặc ao hồ tự nhiên. Chỉ một hành vi nhỏ như xả rác, rửa chuồng trại hay xả nước thải không đúng cách cũng có thể khiến cả nguồn nước bị ô nhiễm.

Nhận thức được điều đó, nhiều tổ chức cộng đồng đã triển khai các chương trình truyền thông về nước sạch, trong đó phụ nữ luôn là lực lượng nòng cốt.

nc-bg.jpg

“Muốn thay đổi thói quen của cộng đồng thì phải bắt đầu từ từng gia đình”, bà Đức chia sẻ.

Với lợi thế gần gũi, kiên trì và có tiếng nói trong gia đình, những người như bà Đức, chị Đảm, chị Huyền đã trở thành cầu nối quan trọng giúp các thông điệp bảo vệ môi trường được lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng dân cư.

Ở nhiều địa phương, các chi hội phụ nữ đã tổ chức những buổi sinh hoạt chuyên đề về nước sạch, hướng dẫn người dân sử dụng nước tiết kiệm, xử lý rác thải sinh hoạt và bảo vệ nguồn nước tự nhiên.

Bảo vệ nguồn nước – bảo vệ tương lai

Tài nguyên nước đang chịu sức ép ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu, gia tăng dân số và quá trình đô thị hóa.

anh-3.jpg

Trong bối cảnh đó, việc bảo vệ nguồn nước không thể chỉ dựa vào các chính sách hay dự án lớn mà cần bắt đầu từ những thay đổi trong hành vi của mỗi người.

Những người phụ nữ như bà Đức, chị Đảm, chị Huyền có thể không xuất hiện trên các diễn đàn lớn, nhưng sự kiên trì của họ đang góp phần giữ gìn môi trường sống. Khi rác thải được phân loại, thu gom đúng quy định, tác động tiêu cực đến môi trường và nguồn nước cũng sẽ giảm đi đáng kể.

Và chính từ những hành động giản dị ấy, một thông điệp mạnh mẽ đang được lan tỏa: bảo vệ nguồn nước chính là bảo vệ sự sống và tương lai của các thế hệ mai sau.

Phát biểu tại buổi gặp mặt nữ lãnh đạo, quản lý các cơ quan Trung ương và trao giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 diễn ra sáng 6/3, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới; để thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên và hiện thực hóa 2 mục tiêu chiến lược 100 năm, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết 57, 59, 68 và các nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị đã xác định: Khoa học công nghệ là động lực then chốt; đổi mới sáng tạo là lựa chọn chiến lược; chuyển đổi số, chuyển đổi xanh là điều kiện tiên quyết; hội nhập quốc tế là con đường tất yếu. Chúng ta cũng tập trung thực hiện 4 chuyển đổi căn bản gồm: Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Trong tiến trình phát triển và trung tâm của sự chuyển đổi đó, phụ nữ Việt Nam chính là nguồn lực nội sinh mạnh mẽ, là chủ thể tích cực tham gia dẫn dắt và làm chủ những vận hội mới như Bác Hồ đã nhấn mạnh: "Tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm của người làm chủ đất nước".

Bài liên quan

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Những “sứ giả nước sạch” trong cộng đồng
(*) Bản quyền thuộc về Tạp chí điện tử Môi trường và Cuộc sống. Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.