Thực trạng tiếp cận nước sạch và tác động đến phụ nữ Việt Nam
Thanh Thảo•12/03/2026 13:30
Dù hệ thống cấp nước đang dần được cải thiện, nhiều khu vực nông thôn và miền núi Việt Nam vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nước sạch. Những chênh lệch này không chỉ phản ánh sự khác biệt về điều kiện phát triển mà còn tạo ra những tác động rõ rệt đến đời sống của người dân, trong đó phụ nữ và trẻ em gái thường là nhóm chịu ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài.
Kết quả Khảo sát mức sống dân cư năm 2024 do Cục Thống kê công bố cho thấy, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh trên toàn quốc đã đạt 98,7%, tăng 5,7 điểm phần trăm so với năm 2014. Trong đó, khu vực thành thị đạt 99,7% và khu vực nông thôn đạt khoảng 98%. Tuy nhiên, nếu xét theo tiêu chuẩn nước sạch đạt quy chuẩn quốc gia, bức tranh lại cho thấy nhiều khoảng trống đáng chú ý.
Trên thực tế, đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, hiện cả nước mới có khoảng 68% hộ dân nông thôn được sử dụng nước đạt quy chuẩn, đồng nghĩa với việc vẫn còn hơn 30% dân cư nông thôn, tương đương khoảng 17 triệu người đang sử dụng nguồn nước chưa đảm bảo chất lượng cho sinh hoạt và ăn uống.
Những con số này cho thấy dù tỷ lệ bao phủ nguồn nước hợp vệ sinh đã tăng đáng kể, nhưng chất lượng và sự ổn định của nguồn nước sạch vẫn chưa đồng đều giữa các vùng miền.
Trong bối cảnh đó, câu chuyện tiếp cận nước sạch không chỉ là vấn đề hạ tầng hay kỹ thuật, mà còn gắn chặt với đời sống xã hội, đặc biệt là vai trò và gánh nặng của phụ nữ trong gia đình và cộng đồng.
Khả năng tiếp cận nước sạch vẫn còn nhiều chênh lệch
Trong nhiều năm qua, hệ thống cấp nước tại Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể, đặc biệt tại các đô thị lớn và khu vực có tốc độ đô thị hóa nhanh. Hàng loạt nhà máy xử lý nước hiện đại đã được đầu tư xây dựng, kết hợp với mạng lưới đường ống phân phối ngày càng mở rộng, giúp nâng cao khả năng cung cấp nước sạch cho người dân. Tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM hay Đà Nẵng, phần lớn hộ gia đình hiện nay có thể tiếp cận nguồn nước sạch thông qua hệ thống cấp nước tập trung, được xử lý và kiểm soát chất lượng theo quy chuẩn quốc gia.
Hàng loạt nhà máy xử lý nước hiện đại đã được đầu tư xây dựng
Việc sử dụng nước máy ổn định không chỉ giúp cải thiện điều kiện sinh hoạt hằng ngày mà còn góp phần giảm đáng kể nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến nguồn nước ô nhiễm. Nước sạch trở thành một phần thiết yếu của hạ tầng đô thị, gắn liền với các tiêu chí về sức khỏe cộng đồng, vệ sinh môi trường và chất lượng sống của người dân. Nhờ đó, những công việc từng tiêu tốn nhiều thời gian và công sức như lấy nước, trữ nước hay xử lý nước trước khi sử dụng dần trở nên đơn giản hơn đối với cư dân thành thị.
Tuy nhiên, sự phát triển của hệ thống cấp nước vẫn chưa diễn ra đồng đều giữa các vùng miền. Trong khi nhiều đô thị đã đạt tỷ lệ bao phủ nước máy ở mức cao, thì tại khu vực nông thôn, miền núi và vùng sâu, vùng xa, việc tiếp cận nước sạch vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Ở nhiều địa phương, người dân vẫn phải phụ thuộc vào các nguồn nước tự nhiên như giếng đào, giếng khoan, ao hồ, suối hoặc nước mưa để phục vụ sinh hoạt hằng ngày.
Những nguồn nước này thường không được kiểm tra và kiểm soát chất lượng thường xuyên. Trong bối cảnh ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng, việc sử dụng nước từ các nguồn tự nhiên tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với sức khỏe. Nguồn nước có thể bị ảnh hưởng bởi hoạt động sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, rác thải sinh hoạt hoặc sự xâm nhập của các kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh. Trong khi đó, nhiều hộ gia đình lại chưa có điều kiện đầu tư các thiết bị lọc nước đạt chuẩn, khiến rủi ro về sức khỏe càng trở nên đáng lo ngại.
Bên cạnh vấn đề chất lượng, tính ổn định của nguồn nước cũng là một thách thức tại nhiều vùng nông thôn. Vào mùa khô, một số giếng khoan hoặc giếng đào có thể bị cạn nước, buộc người dân phải tìm kiếm nguồn nước thay thế ở khoảng cách xa hơn. Trong mùa mưa, nguồn nước mặt như ao hồ hoặc suối lại dễ bị đục và nhiễm bẩn do dòng chảy cuốn theo bùn đất và chất thải từ môi trường xung quanh. Điều này khiến việc đảm bảo nước sinh hoạt an toàn trở thành một bài toán không đơn giản đối với nhiều cộng đồng.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cả nước hiện có hơn 18.000 công trình cấp nước tập trung ở nông thôn, nhưng phần lớn là các công trình quy mô nhỏ. Trong đó, khoảng 7.800 công trình có công suất từ 50m³/ngày đêm trở lên, còn lại là các hệ thống nhỏ lẻ phục vụ phạm vi hẹp. Nhiều công trình được xây dựng theo hình thức dẫn nước từ suối hoặc giếng chung cho một nhóm hộ gia đình, nên chất lượng nước và khả năng vận hành lâu dài còn hạn chế.
Khoảng cách tiếp cận nước sạch càng trở nên rõ nét khi nhìn vào các vùng địa lý đặc thù. Ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, nơi địa hình phức tạp và dân cư phân tán, việc xây dựng hệ thống cấp nước tập trung gặp nhiều khó khăn. Theo số liệu thống kê, đây là khu vực có tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh thấp nhất cả nước, khoảng 94,4%.
Tại tỉnh Lào Cai, dù khoảng 97% hộ dân nông thôn đã tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh, nhưng tỷ lệ nước đạt chuẩn chỉ khoảng 33,2%. Gần một nửa số hộ dân vẫn sử dụng các nguồn nước nhỏ lẻ như giếng đào, giếng khoan hoặc mó nước tự nhiên. Trong khi đó, chỉ khoảng 16,2% hộ gia đình có thiết bị lọc nước đạt quy chuẩn, khiến nguy cơ ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt vẫn còn hiện hữu.
Ở Tây Nguyên, tình trạng suy giảm nguồn nước ngầm và khô hạn kéo dài trong những năm gần đây cũng đặt ra thách thức lớn đối với an ninh nguồn nước. Nhiều khu vực phụ thuộc vào giếng khoan hoặc các nguồn nước tự nhiên dễ bị cạn kiệt trong mùa khô.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, vấn đề lại mang đặc thù khác khi tình trạng xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng do biến đổi khí hậu và suy giảm dòng chảy từ thượng nguồn.
Theo Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, nhiều địa phương trong khu vực đang phải đối mặt với tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, buộc người dân phải mua nước sinh hoạt với chi phí cao.
Khi gánh nặng nước sạch đặt lên vai phụ nữ
“
Trong bối cảnh tiếp cận nước sạch chưa đồng đều, phụ nữ thường là người trực tiếp chịu tác động rõ rệt nhất. Ở nhiều gia đình nông thôn, trách nhiệm đảm bảo nguồn nước sinh hoạt vẫn chủ yếu đặt lên vai phụ nữ và trẻ em gái.
Chia sẻ tại Hội thảo "Vận động chính sách hỗ trợ phụ nữ tiếp cận nước sạch, vệ sinh góp phần thực hiện tiêu chí "3 sạch" và thúc đẩy bình đẳng giới trong Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2035" tổ chức tại tỉnh Đồng Nai ngày 16/10/2025, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hiền cho biết, ở nhiều vùng nông thôn, phụ nữ phải dành hàng giờ mỗi ngày để đi lấy nước cho sinh hoạt gia đình.
Trên thực tế, tại nhiều khu vực miền núi hoặc vùng thường xuyên đối mặt với tình trạng khan hiếm nước, việc tìm kiếm nguồn nước sinh hoạt vẫn là công việc hằng ngày của không ít phụ nữ.
Ở những nơi hệ thống cấp nước tập trung chưa được xây dựng hoặc hoạt động không ổn định, họ phải đi bộ đến các con suối, giếng đào hoặc các điểm lấy nước chung của cộng đồng để mang nước về phục vụ sinh hoạt gia đình. Quãng đường di chuyển có khi kéo dài hàng kilomet, đặc biệt tại những địa bàn có địa hình đồi núi hoặc dân cư phân tán.
Trong những điều kiện như vậy, phụ nữ có thể mất từ một đến ba giờ mỗi ngày chỉ để đảm bảo đủ nước cho các nhu cầu cơ bản như nấu ăn, giặt giũ và vệ sinh cá nhân. Công việc tưởng chừng quen thuộc này lại đòi hỏi nhiều sức lực khi họ phải mang vác các can hoặc thùng nước nặng từ 15 đến 20 lít trên quãng đường dài. Với nhiều gia đình đông người, việc lấy nước thậm chí phải lặp lại nhiều lần trong ngày. Không ít phụ nữ chia sẻ rằng phần lớn thời gian buổi sáng hoặc buổi chiều của họ gắn liền với những chuyến đi lấy nước, khiến quỹ thời gian dành cho lao động sản xuất, học tập hoặc nghỉ ngơi bị thu hẹp đáng kể.
Bên cạnh yếu tố thời gian và sức lao động, việc thiếu nước sạch còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của phụ nữ. Khi nguồn nước sinh hoạt không đảm bảo chất lượng, nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến nước như tiêu chảy, nhiễm khuẩn đường ruột hoặc các bệnh về da liễu có xu hướng gia tăng. Trong điều kiện vệ sinh kém, phụ nữ cũng dễ đối mặt với các bệnh phụ khoa do nguồn nước không được xử lý an toàn.
Đối với phụ nữ mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ, những rủi ro này càng trở nên đáng lo ngại. Việc thiếu nước sạch và điều kiện vệ sinh phù hợp có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, ảnh hưởng đến sức khỏe thai sản cũng như sự phát triển của trẻ sơ sinh. Trong nhiều trường hợp, nguồn nước không đảm bảo còn khiến việc chăm sóc trẻ nhỏ trở nên khó khăn hơn, từ việc pha sữa, tắm rửa đến đảm bảo vệ sinh trong sinh hoạt hằng ngày.
Không chỉ dừng lại ở vấn đề sức khỏe, tình trạng thiếu nước sạch còn tác động đến cơ hội học tập của trẻ em gái. Ở những gia đình gặp khó khăn về nguồn nước, các em thường phải tham gia hỗ trợ việc lấy nước hoặc làm các công việc sinh hoạt khác trong gia đình. Điều này khiến thời gian dành cho việc học tập bị giảm sút, thậm chí có em phải nghỉ học trong những giai đoạn nguồn nước trở nên khan hiếm.
Những khó khăn tưởng chừng nhỏ trong sinh hoạt hằng ngày vì vậy lại có thể tạo ra những tác động dài hạn đối với cơ hội phát triển của phụ nữ và trẻ em gái. Khi thời gian, sức khỏe và điều kiện học tập bị ảnh hưởng bởi việc thiếu nước sạch, khoảng cách về cơ hội giữa các nhóm xã hội cũng có nguy cơ bị kéo dài.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Hiền, những yếu tố này góp phần duy trì vòng lặp bất bình đẳng giới trong nhiều cộng đồng. Khi phụ nữ và trẻ em gái phải dành nhiều thời gian cho việc đảm bảo nguồn nước sinh hoạt, cơ hội phát triển cá nhân và kinh tế của họ cũng bị hạn chế.
Khoảng trống trong chính sách và thực thi
“
Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình và chiến lược nhằm cải thiện khả năng tiếp cận nước sạch cho người dân, đặc biệt tại khu vực nông thôn. Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ có ít nhất 65% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn, và đến năm 2045 đạt 100%.
Tuy nhiên, việc hiện thực hóa các mục tiêu này vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, trong giai đoạn 2020–2024, tổng vốn đầu tư cho lĩnh vực nước sạch nông thôn đạt khoảng 13.400 tỷ đồng, trong khi nhu cầu thực tế của giai đoạn 2021–2025 lên tới khoảng 29.200 tỷ đồng. Khoảng cách đầu tư gần 16.000 tỷ đồng cho thấy nguồn lực dành cho lĩnh vực này vẫn còn hạn chế.
Ông Giáp Mai Thùy, Phó Trưởng phòng Quản lý nước sạch nông thôn, cho biết nhiều công trình cấp nước nhỏ lẻ chỉ hoạt động hiệu quả trong khoảng 3–5 năm trước khi xuống cấp. Nếu không có cơ chế quản lý phù hợp hoặc sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp, các công trình này nhanh chóng hư hỏng, dẫn đến lãng phí nguồn lực đầu tư.
Ngoài vấn đề nguồn lực, một khoảng trống khác nằm ở việc lồng ghép yếu tố giới trong các chương trình cấp nước. Dù phụ nữ là nhóm chịu tác động trực tiếp từ việc thiếu nước sạch, họ vẫn ít có cơ hội tham gia vào các ban quản lý công trình nước hoặc quá trình ra quyết định liên quan đến quản lý nguồn nước tại cộng đồng.
Các chuyên gia nhận định, cần tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý và vận hành các công trình cấp nước
Theo các chuyên gia, việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý và vận hành các công trình cấp nước không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn giúp các chính sách trở nên phù hợp hơn với nhu cầu thực tế của người dân.
Những con số về tiếp cận nước sạch có thể cho thấy những bước tiến đáng kể của Việt Nam trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, đằng sau những con số đó vẫn tồn tại những khoảng cách và thách thức cần được nhìn nhận rõ ràng.
“
Tại nhiều vùng nông thôn, miền núi và khu vực chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, câu chuyện về nước sạch vẫn gắn liền với đời sống hằng ngày của người dân. Và trong câu chuyện đó, phụ nữ thường là người trực tiếp gánh vác trách nhiệm tìm kiếm, quản lý và sử dụng nguồn nước cho gia đình.
Thực trạng này cho thấy bất bình đẳng không chỉ tồn tại trong các văn bản hay chính sách, mà còn hiện hữu trong những công việc tưởng chừng giản đơn của đời sống hằng ngày. Khi việc tiếp cận nước sạch chưa thực sự công bằng, gánh nặng vẫn tiếp tục đặt lên đôi vai của hàng triệu phụ nữ – những người âm thầm đảm bảo dòng nước cho gia đình và cộng đồng.
Cần xây dựng chương trình khoa học công nghệ tổng thể cho toàn lĩnh vực nước và phòng, chống thiên tai, tập hợp các bài toán trọng tâm, làm rõ sản phẩm đầu ra và địa chỉ ứng dụng.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu khiến mưa cực đoan và ngập lụt đô thị ngày càng khó lường, tư duy chống ngập không thể chỉ dừng ở việc mở rộng cống thoát nước hay tăng công suất trạm bơm.
Những trận mưa lớn liên tiếp đầu tháng 10 khiến nhiều tuyến đường tại TP.HCM ngập nước, giao thông gặp khó khăn. Trước thực trạng ngập úng tái diễn tại nhiều khu vực, thành phố dự kiến triển khai 87 dự án chống ngập trong giai đoạn 2026-2030, với tổng nguồn vốn khoảng 140.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, để giải quyết căn cơ bài toán này, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng đầu tư hạ tầng mà còn phải khắc phục những điểm nghẽn trong toàn bộ hệ thống thoát nước đô thị.
Tình trạng ngập úng tái diễn tại nhiều đô thị, cùng những bất cập trong cấp nước và xử lý nước thải đang đặt ra yêu cầu Thanh Hóa phải đồng bộ lại hạ tầng kỹ thuật với quá trình phát triển đô thị, trong đó giải pháp thoát nước, chống ngập cần được tính toán ngay từ khâu quy hoạch.
UBND TP Hồ Chí Minh đã phê duyệt dự án Cải thiện hệ thống thoát nước, nước thải và thích ứng với biến đổi khí hậu tại lưu vực Tây Sài Gòn (CRUS2), với tổng mức đầu tư khoảng 7.688 tỷ đồng, nhằm giảm ngập, ô nhiễm môi trường và nâng cao khả năng thích ứng của đô thị trước tác động của biến đổi khí hậu.
Miền Trung – Tây Nguyên đang đối mặt nghịch lý nguồn nước: có nơi thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô nhưng lại hứng chịu lũ lụt, sạt lở khi mưa cực đoan. Biến đổi khí hậu khiến ranh giới thừa – thiếu nước ngày càng khó lường, bộc lộ những giới hạn của cách ứng phó bị động. Từ những phân tích về nguồn nước, hạ tầng, dữ liệu và cơ chế quản lý, chuyên đề đặt ra yêu cầu chuyển mạnh sang quản trị chủ động theo lưu vực, dựa trên dữ liệu, thể chế và năng lực thích ứng.
Miền Trung – Tây Nguyên đang đứng trước những thách thức ngày càng lớn về an ninh nguồn nước khi biến đổi khí hậu làm gia tăng tính bất thường và cực đoan của thiên tai. Mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất xảy ra nhanh và khó lường, trong khi hạn hán, thiếu nước và suy giảm nguồn nước cũng diễn biến phức tạp, tác động trực tiếp đến đời sống dân cư, sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội.
Để trả lời những câu hỏi về nguy cơ gây ô nhiễm, khả năng lan truyền và cần hành động thế nào...Hà Nội cần chuyển mạnh từ tư duy ứng phó sang quản trị chất lượng không khí chủ động, dựa trên dữ liệu, nhận diện nguồn phát thải và dự báo nguy cơ.
Trong 9 tháng đầu năm, các vụ cháy tại Indonesia đã ảnh hưởng đến gần 1,92 triệu ha đất, làm gia tăng ô nhiễm không khí và khiến khói mù lan sang nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.
Các cuộc tấn công nhằm vào hạ tầng năng lượng của Ukraine đang làm gia tăng nguy cơ gián đoạn cấp nước tại thủ đô Kiev trong mùa Đông. Nếu mất điện kéo dài, nhiều khu vực có thể thiếu nước sinh hoạt trong nhiều tuần, đồng thời đối mặt nguy cơ nước thải tràn ra đường phố, gây ô nhiễm môi trường và đe dọa sức khỏe cộng đồng.
Trước nguy cơ ô nhiễm không khí gia tăng trong mùa đông, Hà Nội triển khai nhiều biện pháp kiểm soát bụi từ công trường xây dựng, xe vận chuyển vật liệu và hoạt động đốt rác tự phát; đồng thời khuyến khích người dân ghi nhận, phản ánh vi phạm qua ứng dụng iHanoi.
Ngay cả khi lượng phát thải CO₂ được đưa về mức ròng bằng 0, những biến đổi về nhiệt độ nước biển, gió và lượng mưa tại khu vực nhiệt đới Thái Bình Dương vẫn có thể kéo dài hàng trăm năm. Nghiên cứu của các nhà khoa học Australia cho thấy đại dương tiếp tục lưu giữ nhiệt lượng tích tụ từ quá trình Trái Đất nóng lên, để lại những tác động lâu dài đối với khí hậu toàn cầu.
Số liệu quan trắc lúc 10 giờ ngày 20/10 cho thấy, chất lượng không khí tại nhiều địa phương trên cả nước nằm trong ngưỡng tốt đến trung bình. Trong đó, các điểm quan trắc ở Trung Bộ ghi nhận chỉ số AQI ở mức tốt, còn Bắc Bộ và Nam Bộ phổ biến ở mức trung bình.
Trong hai ngày (19-20/10), tại tỉnh Sơn La và Quảng Ngãi xảy ra 5 trận động đất, tuy không gây thiệt hại về người nhưng cũng khiến nhiều người bất an, lo lắng.