Khoảng trống quản lý chất thải xây dựng - Bài 3: Chính sách đã có, nhưng quản lý vẫn lỏng lẻo
Hải Đăng•09:57 10/07/2026
Khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn vẫn còn rất lớn khi tình trạng đổ trộm phế thải xây dựng diễn ra ở nhiều địa phương, hoạt động thu gom, vận chuyển thiếu kiểm soát.
Hệ thống pháp luật về quản lý chất thải rắn xây dựng của Việt Nam trong những năm gần đây liên tục được hoàn thiện với nhiều quy định mới, từng bước tiếp cận mô hình kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững. Tuy nhiên, khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn vẫn còn rất lớn khi tình trạng đổ trộm phế thải xây dựng diễn ra ở nhiều địa phương, hoạt động thu gom, vận chuyển thiếu kiểm soát, trong khi trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý còn chồng chéo. Điều đó cho thấy, bài toán không còn nằm ở việc thiếu quy định pháp luật, mà nằm ở những "khoảng trống" trong tổ chức thực thi.
Hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện nhưng vẫn còn nhiều "điểm nghẽn"
“
Cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh, hoạt động xây dựng, cải tạo và phá dỡ công trình trên cả nước đã làm phát sinh khối lượng rất lớn chất thải rắn xây dựng (CTRXD). Khác với trước đây khi CTRXD chủ yếu được xem là phế thải cần thu gom và chôn lấp, tư duy quản lý hiện nay đã có sự thay đổi căn bản. Chất thải xây dựng được nhìn nhận là một nguồn tài nguyên thứ cấp có thể tái chế, tái sử dụng nhằm giảm khai thác tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm vật liệu xây dựng và thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn.
Sự thay đổi trong quan điểm quản lý này được phản ánh khá rõ trong hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành. Nếu như giai đoạn trước, việc quản lý CTRXD chủ yếu dựa trên các văn bản hướng dẫn của ngành xây dựng thì hiện nay, khung pháp lý đã được mở rộng, đồng bộ hơn với sự tham gia của nhiều đạo luật, nghị định và thông tư thuộc cả lĩnh vực môi trường và xây dựng.
Đến thời điểm tháng 7/2026, hệ thống văn bản điều chỉnh hoạt động quản lý CTRXD được hình thành theo nhiều tầng nấc pháp lý, từ luật, nghị định đến các văn bản hướng dẫn chuyên ngành. Trong đó, nền tảng quan trọng nhất là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, cùng với các nghị định hướng dẫn thi hành và các quy định chuyên ngành về quản lý chất thải rắn xây dựng.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đánh dấu bước chuyển rất lớn trong tư duy quản lý chất thải tại Việt Nam khi lần đầu tiên tiếp cận quản lý chất thải theo toàn bộ vòng đời, từ khâu phát sinh, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế cho đến xử lý cuối cùng. Thay vì chỉ tập trung vào khâu xử lý như trước đây, Luật đặt ra yêu cầu kiểm soát ngay từ nguồn phát sinh và coi chủ nguồn thải là chủ thể chịu trách nhiệm xuyên suốt đối với lượng chất thải mình tạo ra.
Đối với chất thải rắn xây dựng, Luật quy định rõ nguyên tắc mọi loại chất thải phải được quản lý từ khi phát sinh đến khi xử lý cuối cùng; việc giảm thiểu phát sinh chất thải phải được ưu tiên ngay trong quá trình thiết kế, thi công công trình; đồng thời khuyến khích tối đa việc tái sử dụng, tái chế và thu hồi tài nguyên từ chất thải. Đây chính là nền tảng để Việt Nam từng bước chuyển đổi từ mô hình "khai thác - sử dụng - thải bỏ" sang mô hình kinh tế tuần hoàn.
Một điểm mới rất đáng chú ý của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 là lần đầu tiên đưa khái niệm kinh tế tuần hoàn vào hệ thống pháp luật. Theo đó, kinh tế tuần hoàn được xác định là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ hướng tới giảm khai thác nguyên liệu, kéo dài vòng đời sản phẩm, hạn chế phát sinh chất thải và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Điều này mở ra cơ sở pháp lý để chất thải rắn xây dựng không còn chỉ là "rác thải", mà có thể trở thành nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành sản xuất vật liệu xây dựng.
Trên cơ sở Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2022/NĐ-CP, quy định chi tiết nhiều nội dung liên quan đến quản lý chất thải, giấy phép môi trường và điều kiện hoạt động của các cơ sở xử lý chất thải. Đây được xem là nghị định khung trong lĩnh vực môi trường hiện nay.
Nghị định này quy định khá toàn diện về quản lý chất thải rắn công nghiệp thông thường; điều kiện đối với cơ sở thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải; trách nhiệm của chủ nguồn thải; hồ sơ môi trường của các dự án đầu tư xây dựng; cũng như các yêu cầu kỹ thuật đối với hoạt động xử lý chất thải.
Đầu năm 2026, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 48/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung của Nghị định số 08/2022/NĐ-CP. Những sửa đổi này tập trung vào việc đơn giản hóa thủ tục hành chính nhưng đồng thời tăng cường hiệu quả quản lý môi trường. Trong đó có việc bổ sung quy định về phân loại dự án môi trường; điều chỉnh thủ tục cấp giấy phép môi trường; hoàn thiện các quy định quản lý chất thải nguy hại và chất thải công nghiệp; đồng thời rút ngắn nhiều thủ tục hành chính nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu kiểm soát môi trường.
Nếu Luật Bảo vệ môi trường và các nghị định hướng dẫn tạo nên khung pháp lý chung thì Thông tư số 08/2017/TT-BXD của Bộ Xây dựng vẫn là văn bản chuyên ngành quan trọng nhất đối với hoạt động quản lý CTRXD và hiện vẫn được các địa phương áp dụng rộng rãi.
Thông tư này quy định rất cụ thể từng công đoạn quản lý chất thải rắn xây dựng. Trước hết là yêu cầu phân loại ngay tại nơi phát sinh, theo đó CTRXD phải được tách thành các nhóm như đất, bùn đào; bê tông; gạch; vật liệu lát; kim loại; gỗ; kính; nhựa; thạch cao và các loại chất thải khác. Việc phân loại tại nguồn được coi là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả tái sử dụng và tái chế.
Ở khâu thu gom, Thông tư yêu cầu chủ đầu tư phải bố trí khu vực tập kết riêng; có biện pháp chống phát tán bụi; không được để chất thải xây dựng lẫn với chất thải sinh hoạt hoặc các loại chất thải khác.
Đối với hoạt động vận chuyển, các đơn vị thực hiện phải sử dụng phương tiện chuyên dụng hoặc phương tiện đáp ứng yêu cầu kỹ thuật; xe phải được che chắn kín, không để rơi vãi vật liệu trên đường; đồng thời chỉ được vận chuyển đến các địa điểm tiếp nhận hợp pháp hoặc cơ sở xử lý được cấp phép.
Thông tư cũng dành dung lượng đáng kể cho hoạt động tái sử dụng và tái chế. Theo đó, bê tông có thể được nghiền làm vật liệu san lấp hoặc cấp phối nền đường; gạch được tái chế thành vật liệu xây dựng; đất đào được tận dụng cho các dự án san nền; kim loại, gỗ, kính, nhựa được thu hồi để tái chế; chỉ những thành phần không còn khả năng tái sử dụng hoặc tái chế mới được đưa đi chôn lấp theo quy định.
Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong chính sách quản lý CTRXD của Việt Nam khi định hướng rõ việc giảm tối đa tỷ lệ chôn lấp và gia tăng tỷ lệ tái chế, phù hợp với xu thế phát triển bền vững của nhiều quốc gia trên thế giới.
Bên cạnh các quy định về quản lý chất thải rắn xây dựng, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành cũng đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng thiết kế các công trình xử lý chất thải. Một trong những văn bản nền tảng là Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 261:2001 về thiết kế bãi chôn lấp chất thải rắn.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa tiêu chuẩn kỹ thuật và các quy định pháp luật về quản lý môi trường. TCXDVN 261:2001 chỉ quy định các yêu cầu kỹ thuật đối với việc thiết kế tổng mặt bằng bãi chôn lấp chất thải rắn thông thường hợp vệ sinh, áp dụng cho các dự án xây dựng mới hoặc mở rộng bãi chôn lấp, không áp dụng đối với chất thải nguy hại. Tiêu chuẩn này tập trung vào các nội dung như lựa chọn địa điểm phù hợp quy hoạch, ưu tiên khu đất có hiệu quả sử dụng thấp, bảo đảm khoảng cách cách ly vệ sinh; đồng thời quy định việc bố trí khu chôn lấp, khu xử lý nước rỉ rác và các hạng mục phụ trợ nhằm bảo đảm yêu cầu kỹ thuật trong quá trình vận hành.
Trong khi đó, các quy định về phân loại chất thải tại nguồn, phương thức xử lý, điều kiện quản lý cũng như chế tài xử lý vi phạm lại được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường. Cụ thể, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định trách nhiệm phân loại chất thải; Nghị định số 45/2022/NĐ-CP quy định mức xử phạt đối với các hành vi không phân loại rác, đổ chất thải trái quy định hoặc gây ô nhiễm môi trường; còn Điều 235 Bộ luật Hình sự quy định việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường hoặc chôn lấp, xả thải trái phép gây hậu quả nghiêm trọng. Sự phân định này cho thấy hệ thống pháp luật hiện hành vừa bao gồm các tiêu chuẩn kỹ thuật phục vụ thiết kế công trình, vừa có các quy định quản lý và chế tài nhằm kiểm soát toàn bộ quá trình phát sinh, thu gom, xử lý chất thải.
Song song với các quy định về môi trường, lĩnh vực xây dựng cũng tiếp tục được hoàn thiện thông qua Nghị định số 207/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Dù trọng tâm của nghị định là quản lý chất lượng và thi công công trình xây dựng, nhưng văn bản này đã bổ sung thêm nhiều yêu cầu đối với nhà thầu trong việc quản lý vật liệu xây dựng, quản lý phế thải phát sinh trong quá trình thi công, bảo đảm vệ sinh môi trường công trường và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
Có thể thấy, nếu đặt toàn bộ hệ thống văn bản hiện hành cạnh nhau sẽ thấy chính sách của Việt Nam đang được xây dựng theo hướng khá đầy đủ, từ nguyên tắc quản lý, trách nhiệm của chủ nguồn thải, điều kiện đối với đơn vị vận chuyển, cơ sở xử lý, cho tới định hướng phát triển kinh tế tuần hoàn và thúc đẩy thị trường vật liệu tái chế. Trên phương diện pháp lý, những khoảng trống trước đây từng tồn tại đã từng bước được lấp đầy. Tuy nhiên, nghịch lý lại nằm ở chỗ, càng hoàn thiện về chính sách thì thực tế ngoài hiện trường vẫn liên tục ghi nhận các vụ đổ trộm phế thải xây dựng, các bãi tập kết tự phát mọc lên ở ven sông, ao hồ, đất nông nghiệp hay khu vực ngoại thành. Điều đó đặt ra một câu hỏi lớn: Vì sao hệ thống pháp luật ngày càng đầy đủ nhưng hiệu quả quản lý vẫn chưa theo kịp thực tiễn?
Nhìn ở góc độ phát triển ngành tái chế chất thải rắn xây dựng, nhiều chuyên gia cho rằng hệ thống chính sách vẫn còn không ít khoảng trống.
Cũng theo TS Nguyễn Thế Thông, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), một bất cập khác là hiện vẫn thiếu định nghĩa, định mức và đơn giá đối với vật liệu tái sinh. Đây là yếu tố rất quan trọng bởi dù đơn vị tư vấn mong muốn sử dụng vật liệu tái chế thì cũng khó đưa loại vật liệu này vào hồ sơ dự toán nếu chưa có định mức và đơn giá do cơ quan quản lý nhà nước ban hành. Đồng thời, các công cụ kinh tế, tài chính cũng chưa tạo đủ động lực để thúc đẩy hoạt động tái chế; trong khi các quy chuẩn kỹ thuật đối với nguyên liệu tái sinh vẫn đang trong quá trình xây dựng, chưa hoàn thiện.
Khoảng trống không nằm ở văn bản mà nằm ở khâu thực thi
Nếu nhìn vào hệ thống pháp luật hiện hành, có thể thấy Việt Nam không hề thiếu các quy định điều chỉnh hoạt động quản lý chất thải rắn xây dựng. Từ Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP, Nghị định số 48/2026/NĐ-CP, Nghị định số 207/2026/NĐ-CP cho đến Thông tư số 08/2017/TT-BXD… đều đã quy định khá đầy đủ trách nhiệm của chủ đầu tư, nhà thầu, đơn vị vận chuyển, cơ sở xử lý cũng như trách nhiệm quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng.
Tình trạng đổ trộm chất thải rắn xây dựng vẫn diễn ra ở nhiều địa phương
Thế nhưng, đi cùng với sự hoàn thiện của hành lang pháp lý lại là một thực tế đáng lo ngại: Tình trạng đổ trộm chất thải rắn xây dựng vẫn diễn ra ở nhiều địa phương, từ các đô thị đặc biệt như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh cho đến các tỉnh đang phát triển mạnh về hạ tầng. Những bãi đất trống ven đô, ao hồ, đất nông nghiệp, hành lang sông, kênh mương, thậm chí cả khu vực quy hoạch cây xanh vẫn trở thành "điểm đến" của hàng nghìn tấn phế thải xây dựng.
Điều này cho thấy khoảng trống lớn nhất hiện nay không còn nằm ở việc thiếu quy định pháp luật, mà nằm ở năng lực tổ chức thực hiện và cơ chế kiểm soát dòng chất thải sau khi rời khỏi công trường.
Một trong những bất cập lớn nhất là chưa kiểm soát được toàn bộ nguồn phát sinh chất thải rắn xây dựng.
Đối với các dự án đầu tư quy mô lớn, đặc biệt là các công trình sử dụng vốn ngân sách hoặc dự án bất động sản, việc lập kế hoạch quản lý chất thải thường được tích hợp trong hồ sơ môi trường và chịu sự giám sát của nhiều cơ quan quản lý. Tuy nhiên, trên thực tế, lượng chất thải phát sinh từ hàng triệu hoạt động xây mới, sửa chữa, cải tạo nhà ở riêng lẻ lại gần như nằm ngoài "vùng phủ sóng" của hệ thống quản lý.
Mỗi ngày, hàng nghìn hộ dân tiến hành sửa chữa nhà cửa, cải tạo công trình, phá dỡ các hạng mục nhỏ. Khối lượng chất thải của từng công trình không lớn nhưng cộng dồn lại tạo thành nguồn phát sinh rất đáng kể. Phần lớn lượng chất thải này không được thống kê, không có hợp đồng vận chuyển chính thức, không có hồ sơ theo dõi và cũng không có cơ chế xác nhận nơi xử lý cuối cùng.
Khoảng trống này khiến nhiều chủ công trình lựa chọn thuê các nhóm vận chuyển tự phát với chi phí thấp. Sau khi nhận vận chuyển, không ít trường hợp đã đổ phế thải xuống đất trống, ao hồ hoặc khu vực ven sông nhằm giảm chi phí xử lý.
Một điểm yếu khác là Việt Nam hiện vẫn chưa hình thành được cơ sở dữ liệu quốc gia về chất thải rắn xây dựng.
Trong khi nhiều quốc gia đã xây dựng hệ thống quản lý số, theo dõi toàn bộ vòng đời của chất thải từ khi phát sinh đến khi tái chế hoặc xử lý cuối cùng, thì tại Việt Nam, việc thống kê vẫn chủ yếu dựa trên báo cáo của từng địa phương.
Điều này dẫn đến một nghịch lý: cơ quan quản lý rất khó xác định mỗi năm thực tế phát sinh bao nhiêu triệu tấn chất thải rắn xây dựng; tỷ lệ được tái chế là bao nhiêu; tỷ lệ bị chôn lấp là bao nhiêu; lượng bị đổ trộm chiếm tỷ lệ như thế nào. Khi không có dữ liệu đầy đủ thì việc quy hoạch các khu xử lý, dự báo nhu cầu đầu tư hay xây dựng chính sách khuyến khích tái chế đều thiếu cơ sở khoa học.
Một khoảng trống khác được nhiều chuyên gia chỉ ra là chưa có cơ chế truy xuất dòng đi của chất thải.
Hiện nay, sau khi chất thải rời khỏi công trường, việc theo dõi gần như phụ thuộc hoàn toàn vào giấy tờ hoặc hợp đồng giữa các bên. Trong nhiều trường hợp, chủ đầu tư chỉ cần ký hợp đồng với đơn vị vận chuyển là xem như đã hoàn thành trách nhiệm. Tuy nhiên, chất thải sau đó có thực sự được đưa đến cơ sở xử lý hợp pháp hay bị đổ trộm ở nơi khác thì rất khó kiểm chứng.
Chính lỗ hổng này đã tạo điều kiện cho nhiều đường dây đổ trộm chất thải hoạt động trong thời gian dài.
Một ví dụ điển hình xảy ra tại Hà Nội đầu năm 2026. Qua công tác trinh sát, Công an thành phố Hà Nội đã phát hiện một đường dây tổ chức đổ, san lấp trái phép chất thải xây dựng trên đất nông nghiệp tại xã Bát Tràng với khối lượng gần 7.830 tấn. Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án về tội "Gây ô nhiễm môi trường" và bắt giữ nhiều đối tượng, trong đó có chủ bãi tập kết cùng giám đốc các doanh nghiệp vận chuyển chất thải. Theo kết quả điều tra ban đầu, lượng lớn chất thải xây dựng đã được đưa đến khu đất nông nghiệp để san lấp trái phép nhằm trục lợi thay vì chuyển đến các cơ sở xử lý theo quy định.
Vụ việc này cho thấy một thực tế đáng suy nghĩ. Chất thải xây dựng không tự nhiên xuất hiện giữa khu đất nông nghiệp. Để gần 8.000 tấn phế thải được vận chuyển đến hiện trường phải có hàng trăm lượt xe tải ra vào trong thời gian dài. Thế nhưng, chỉ đến khi cơ quan điều tra triển khai các biện pháp nghiệp vụ thì vụ việc mới bị phát hiện. Điều đó phản ánh khoảng trống không nhỏ trong công tác giám sát thường xuyên ở cơ sở.
Không chỉ Hà Nội, nhiều địa phương khác cũng đang đối mặt với tình trạng tương tự. Những "điểm nóng" về đổ trộm chất thải xây dựng thường xuất hiện ở khu vực giáp ranh đô thị, đất dự án chậm triển khai, ven sông, ven đê hoặc đất nông nghiệp chưa được quản lý chặt chẽ. Sau mỗi đợt cải tạo hạ tầng hoặc bùng nổ xây dựng, các khu vực này nhanh chóng trở thành nơi tập kết phế thải trái phép.
Một nguyên nhân khác khiến việc quản lý gặp nhiều khó khăn là hạ tầng tiếp nhận và xử lý chất thải chưa theo kịp tốc độ phát sinh.
Ngay tại Hà Nội - địa phương được xem là có hệ thống quản lý môi trường tương đối hoàn thiện, năng lực xử lý vẫn còn rất hạn chế.
“
Theo chia sẻ của Nguyên Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Nguyễn Xuân Đại, toàn thành phố hiện chỉ có hai điểm xử lý chất thải rắn xây dựng đang hoạt động là bãi chôn lấp Nguyên Khê và khu tái chế tại khu vực nút giao Pháp Vân - Cầu Giẽ. Tổng công suất xử lý thực tế chỉ khoảng 1.000 tấn/ngày, trong khi lượng chất thải phát sinh năm 2024 đã ước khoảng 2.098 tấn/ngày và dự báo có thể tăng lên 3.400 tấn/ngày vào năm 2030. Khoảng cách rất lớn giữa nhu cầu và năng lực xử lý khiến nhiều khu vực không có điểm tiếp nhận hợp pháp, tạo áp lực lớn lên công tác quản lý.
Chính vì vậy, thành phố Hà Nội đã phải ban hành Đề án tổng thể quản lý chất thải rắn xây dựng đến năm 2030 với hàng loạt giải pháp mới như xây dựng hệ thống dữ liệu số, giám sát phương tiện vận chuyển bằng thiết bị định vị GPS, hình thành các điểm tập kết tạm thời ở cấp xã, phường và phân định rõ trách nhiệm của chủ nguồn thải, đơn vị vận chuyển, đơn vị xử lý cũng như chính quyền địa phương. Những giải pháp này cũng gián tiếp cho thấy các "lỗ hổng" tồn tại trong nhiều năm qua mà hệ thống quản lý đang phải tìm cách khắc phục.
Nhìn rộng hơn, những vụ việc bị phát hiện trong thời gian gần đây đều cho thấy một điểm chung: Pháp luật không thiếu, chế tài không thiếu, nhưng khả năng phát hiện vi phạm còn phụ thuộc nhiều vào kiểm tra đột xuất hoặc phản ánh của người dân. Khi chưa hình thành được cơ chế theo dõi khép kín từ nơi phát sinh đến nơi xử lý cuối cùng, chất thải rắn xây dựng vẫn có thể "biến mất" trên hành trình vận chuyển và xuất hiện ở những nơi không ai mong muốn.
Trách nhiệm bị chia nhỏ, quản lý bị chia cắt: Khi "nhiều người quản" đồng nghĩa với "không ai quản đến cùng"
Nếu như những khoảng trống về hạ tầng hay cơ sở dữ liệu có thể được nhìn thấy bằng những con số thống kê thì một "điểm nghẽn" khác lại nằm sâu hơn trong cơ chế quản lý. Đó là việc trách nhiệm quản lý chất thải rắn xây dựng hiện đang được phân tán cho nhiều cơ quan khác nhau, nhưng lại chưa có một đầu mối đủ mạnh để điều phối toàn bộ quá trình từ khi chất thải phát sinh đến khi được xử lý cuối cùng.
Trên phương diện luật pháp, trách nhiệm của từng chủ thể đã được quy định tương đối rõ. Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn, chủ nguồn thải phải chịu trách nhiệm phân loại, lưu giữ và ký hợp đồng với đơn vị có chức năng để thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải. Đơn vị vận chuyển phải sử dụng phương tiện đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, che chắn kín, vận chuyển đúng địa điểm được cấp phép và chịu trách nhiệm trong suốt quá trình vận chuyển. Cơ sở xử lý phải đáp ứng các điều kiện về môi trường, công nghệ và được cấp phép hoạt động.
Ở góc độ quản lý nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (trước đây là Bộ Tài nguyên và Môi trường) chịu trách nhiệm quản lý chung về bảo vệ môi trường; Bộ Xây dựng ban hành các quy chuẩn, hướng dẫn chuyên ngành về quản lý chất thải rắn xây dựng; UBND các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện trên địa bàn; các sở chuyên môn tham mưu và triển khai theo lĩnh vực được phân công; chính quyền cấp xã chịu trách nhiệm kiểm tra, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm xảy ra tại địa phương.
Nhìn trên giấy tờ, cơ chế này khá đầy đủ. Tuy nhiên, khi đi vào thực tế, chính việc chia nhỏ trách nhiệm lại khiến quá trình quản lý bị "cắt khúc", tạo ra những khoảng trống mà các hành vi vi phạm có thể len lỏi.
Thanh tra xây dựng chủ yếu kiểm tra hoạt động xây dựng của công trình, việc cấp phép xây dựng, an toàn lao động và trật tự xây dựng. Khi công trình thi công đúng giấy phép, việc chất thải sau đó được vận chuyển đến đâu thường không phải là nội dung được giám sát thường xuyên.
Trong khi đó, cơ quan quản lý môi trường lại chủ yếu kiểm tra việc chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường, giấy phép môi trường hoặc hoạt động của các cơ sở xử lý chất thải. Với những công trình nhỏ lẻ không thuộc diện phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc xin giấy phép môi trường, việc giám sát lượng chất thải phát sinh gần như rất hạn chế.
Chính quyền cấp xã, phường là lực lượng gần dân nhất, có điều kiện phát hiện sớm các hành vi đổ trộm chất thải. Tuy nhiên, lực lượng này lại thiếu nhân lực chuyên trách, thiếu phương tiện giám sát, trong khi phạm vi quản lý rất rộng. Nhiều địa phương chỉ phát hiện vi phạm khi người dân phản ánh hoặc khi bãi đổ trộm đã hình thành với quy mô lớn.
Đáng chú ý hơn, lực lượng cảnh sát môi trường và thanh tra chuyên ngành thường chỉ vào cuộc khi vụ việc đã có dấu hiệu nghiêm trọng hoặc có yêu cầu điều tra, xử lý. Điều đó đồng nghĩa với việc khoảng thời gian từ lúc chất thải rời công trường cho đến khi được phát hiện đổ sai quy định vẫn tồn tại một "vùng trống" trong công tác kiểm soát.
Đây cũng chính là lý do vì sao nhiều vụ đổ trộm chất thải xây dựng có thể diễn ra trong thời gian dài mà không bị phát hiện.
Thực tế tại Hà Nội là minh chứng khá rõ cho vấn đề này. Theo Đề án tổng thể công tác quản lý chất thải rắn xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2030, thành phố đã thẳng thắn chỉ ra nhiều hạn chế trong công tác quản lý hiện nay. Đáng chú ý là việc chưa phân định thật rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong toàn bộ chuỗi quản lý, từ chủ nguồn thải, đơn vị vận chuyển, đơn vị xử lý đến chính quyền cơ sở. Chính vì vậy, một trong những giải pháp trọng tâm của Đề án là xây dựng cơ chế quản lý theo chuỗi khép kín, trong đó mỗi khâu đều phải có hợp đồng, hóa đơn và hồ sơ chứng minh hành trình hợp pháp của chất thải.
Đề án cũng lần đầu tiên đặt ra yêu cầu gắn trách nhiệm của người đứng đầu địa phương nếu để xảy ra tình trạng đổ chất thải xây dựng trái phép kéo dài trên địa bàn. Đây được xem là bước thay đổi quan trọng bởi lâu nay, trách nhiệm thường chỉ dừng lại ở việc xử phạt đối tượng trực tiếp vi phạm, trong khi trách nhiệm quản lý của chính quyền cơ sở chưa được làm rõ.
Không chỉ Hà Nội, nhiều địa phương khác cũng đang đối mặt với tình trạng tương tự. Nhiều bãi đổ trộm chất thải xây dựng tồn tại trong thời gian dài nhưng việc xử lý chủ yếu dừng ở khâu thu dọn hiện trường. Khi truy tìm chủ nguồn thải, cơ quan chức năng thường gặp rất nhiều khó khăn bởi không xác định được công trình phát sinh, không có dữ liệu về đơn vị vận chuyển và cũng không có hệ thống theo dõi hành trình của xe chở chất thải.
Điều này cho thấy một bất cập khác là quản lý hiện nay vẫn thiên về xử lý hậu quả hơn là phòng ngừa vi phạm.
Trong nhiều lĩnh vực khác như khai thác khoáng sản, vận tải hay quản lý chất thải nguy hại, việc ứng dụng công nghệ số, camera giám sát, thiết bị định vị GPS, cơ sở dữ liệu điện tử đã được triển khai khá mạnh. Trong khi đó, đối với chất thải rắn xây dựng - loại chất thải phát sinh với khối lượng rất lớn - việc quản lý vẫn chủ yếu dựa vào hồ sơ giấy, hợp đồng dân sự và hoạt động kiểm tra trực tiếp.
Đó cũng là lý do nhiều chuyên gia cho rằng, Việt Nam hiện mới quản lý "chủ thể", nhưng chưa quản lý được "dòng chất thải".
Khi chưa kiểm soát được dòng di chuyển của chất thải, việc xác định trách nhiệm cuối cùng sẽ luôn gặp khó khăn. Chủ đầu tư có thể cho rằng mình đã ký hợp đồng vận chuyển nên không còn trách nhiệm. Đơn vị vận chuyển có thể phủ nhận việc đổ trộm nếu không bị bắt quả tang. Chính quyền địa phương nơi phát hiện bãi đổ trái phép lại không đủ căn cứ để xác định chất thải đến từ đâu. Cuối cùng, phần lớn chi phí khắc phục ô nhiễm lại do ngân sách nhà nước hoặc chính quyền địa phương chi trả.
Một vấn đề đáng lưu ý khác là sự phối hợp liên ngành vẫn chưa thật sự đồng bộ.
Quản lý chất thải rắn xây dựng liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vực như xây dựng, tài nguyên môi trường, giao thông vận tải, đất đai, nông nghiệp, trật tự đô thị và cả an ninh trật tự. Tuy nhiên, cơ chế phối hợp giữa các lực lượng trong nhiều trường hợp vẫn mang tính vụ việc, chưa hình thành quy trình phối hợp thường xuyên từ khâu chia sẻ dữ liệu, kiểm tra hiện trường cho đến xử lý vi phạm.
Chính vì vậy, dù nhiều văn bản đã quy định khá đầy đủ trách nhiệm của từng cơ quan, nhưng khoảng trống vẫn xuất hiện ở điểm giao nhau giữa các cơ quan đó. Mỗi đơn vị đều thực hiện đúng chức năng của mình, nhưng lại chưa có cơ chế đủ mạnh để kết nối toàn bộ hệ thống thành một quy trình quản lý thống nhất.
Có thể nói, đây chính là một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến công tác quản lý chất thải rắn xây dựng nhiều năm qua vẫn chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng.
Siết chặt thực thi để chính sách không chỉ nằm trên giấy
Có thể thấy, sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, hệ thống pháp luật về quản lý chất thải rắn xây dựng ở Việt Nam đã tương đối đầy đủ và từng bước tiệm cận với các thông lệ quản lý hiện đại. Từ quy định về phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế đến xử lý cuối cùng đều đã được cụ thể hóa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, các nghị định hướng dẫn và hệ thống văn bản chuyên ngành của Bộ Xây dựng. Nói cách khác, hành lang pháp lý cơ bản không còn là "điểm nghẽn" lớn nhất đối với công tác quản lý chất thải rắn xây dựng.
Vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để những quy định đó thực sự đi vào cuộc sống.
Thực tế ở nhiều địa phương cho thấy, tình trạng đổ trộm chất thải xây dựng vẫn diễn ra khá phổ biến, đặc biệt tại các khu vực ven đô, đất trống, bãi bồi, ao hồ, hành lang sông suối hoặc các khu đất chờ triển khai dự án. Sau mỗi vụ việc được phát hiện, lực lượng chức năng tổ chức kiểm tra, xử phạt, yêu cầu khắc phục hiện trạng. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian, nhiều điểm nóng lại tái diễn với phương thức tương tự. Điều đó cho thấy công tác quản lý vẫn đang mang tính xử lý sự vụ nhiều hơn là phòng ngừa từ gốc.
Một nguyên nhân quan trọng là việc kiểm tra, giám sát hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào các đợt thanh tra theo kế hoạch hoặc phản ánh của người dân. Trong khi đó, hoạt động vận chuyển chất thải xây dựng diễn ra hằng ngày, trải rộng trên phạm vi lớn và thường vào những khung giờ ít người qua lại. Nếu thiếu các công cụ giám sát thường xuyên và cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chức năng, việc phát hiện hành vi vi phạm gần như chỉ diễn ra khi chất thải đã được đổ xuống môi trường.
Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia cũng cho rằng, chế tài xử lý hiện hành tuy đã được bổ sung, nhưng hiệu quả răn đe trên thực tế vẫn chưa tương xứng với lợi ích kinh tế mà hành vi vi phạm mang lại. Đối với một số đơn vị vận chuyển, chi phí để đưa chất thải đến đúng cơ sở xử lý, đặc biệt ở những địa phương còn thiếu bãi tiếp nhận hoặc khoảng cách vận chuyển xa, cao hơn đáng kể so với việc đổ trộm. Khi khả năng bị phát hiện không cao, một bộ phận đối tượng vẫn sẵn sàng đánh đổi để giảm chi phí và tối đa hóa lợi nhuận.
Một hạn chế khác là nhiều địa phương vẫn chưa xây dựng được quy hoạch đồng bộ về hạ tầng tiếp nhận và xử lý chất thải rắn xây dựng. Không ít nơi chưa có bãi tập kết tạm thời, chưa có cơ sở tái chế hoặc điểm tiếp nhận hợp pháp, khiến người dân và doanh nghiệp gặp khó khăn ngay cả khi có nhu cầu thực hiện đúng quy định. Điều này vô hình trung tạo ra khoảng trống để các dịch vụ vận chuyển tự phát hoạt động và hình thành các bãi đổ thải trái phép.
Ở góc độ quản lý nhà nước, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới không chỉ là tiếp tục hoàn thiện chính sách, mà quan trọng hơn là hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện. Cần xác lập rõ đầu mối chịu trách nhiệm xuyên suốt đối với công tác quản lý chất thải rắn xây dựng trên từng địa bàn; phân định rành mạch trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành và chính quyền cơ sở; đồng thời tăng cường cơ chế phối hợp giữa thanh tra xây dựng, lực lượng cảnh sát môi trường, cơ quan quản lý môi trường và chính quyền địa phương trong kiểm tra, phát hiện, xử lý vi phạm.
Quản lý chất thải rắn xây dựng không đơn thuần là xử lý một loại chất thải phát sinh từ hoạt động xây dựng, mà còn liên quan trực tiếp đến bảo vệ tài nguyên đất, nguồn nước, cảnh quan đô thị và sức khỏe cộng đồng. Mỗi bãi đổ thải trái phép không chỉ gây ô nhiễm môi trường, cản trở dòng chảy, làm gia tăng nguy cơ ngập úng mà còn kéo theo những hệ lụy lâu dài về sử dụng đất, chi phí khắc phục và trật tự quản lý đô thị.
Muốn khắc phục tình trạng này, điều quan trọng không chỉ là ban hành thêm các quy định mới mà là bảo đảm các quy định hiện hành được thực thi một cách nghiêm túc, đồng bộ và nhất quán trên thực tế. Chỉ khi mọi khâu từ phát sinh, thu gom, vận chuyển đến xử lý đều được kiểm soát chặt chẽ, mọi chủ thể đều thực hiện đúng trách nhiệm và mọi hành vi vi phạm đều được phát hiện, xử lý kịp thời, công tác quản lý chất thải rắn xây dựng mới thực sự chuyển từ "quản lý trên giấy" sang quản lý hiệu quả trong thực tiễn, góp phần xây dựng môi trường đô thị xanh, sạch và phát triển bền vững.
Tại nhiều khu vực ở Nghệ An, không khó để bắt gặp những bãi phế thải xây dựng tự phát nằm ven đường, cạnh khu dân cư, trên các bãi đất trống hoặc dọc hành lang giao thông. Từ gạch vỡ, bê tông, đất đá đến vật liệu sau phá dỡ công trình bị đổ bỏ tùy tiện, tất cả đang tạo nên những “điểm nghẽn” về môi trường. Thực trạng đó cho thấy công tác quản lý, thu gom và xử lý chất thải xây dựng trên địa bàn vẫn còn không ít bất cập, cần được nhìn nhận thẳng thắn để có giải pháp đồng bộ, căn cơ hơn.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.
Tại nhiều khu vực ở Nghệ An, không khó để bắt gặp những bãi phế thải xây dựng tự phát nằm ven đường, cạnh khu dân cư, trên các bãi đất trống hoặc dọc hành lang giao thông. Từ gạch vỡ, bê tông, đất đá đến vật liệu sau phá dỡ công trình bị đổ bỏ tùy tiện, tất cả đang tạo nên những “điểm nghẽn” về môi trường. Thực trạng đó cho thấy công tác quản lý, thu gom và xử lý chất thải xây dựng trên địa bàn vẫn còn không ít bất cập, cần được nhìn nhận thẳng thắn để có giải pháp đồng bộ, căn cơ hơn.
TP.HCM vừa hoàn tất các thủ tục về đất đai để triển khai thêm một dự án nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng công nghệ đốt phát điện. Dự án được kỳ vọng sẽ góp phần giảm tỷ lệ chôn lấp rác, tăng khả năng thu hồi năng lượng từ chất thải và hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn.
Sau một tháng triển khai xăng sinh học E10 trên toàn quốc, kết quả ban đầu cho thấy một số tín hiệu tích cực về giảm phát thải. Tuy nhiên, Bộ Công Thương cho rằng cần mở rộng phạm vi và thời gian quan trắc để có cơ sở khoa học đánh giá đầy đủ tác động của loại nhiên liệu này đối với môi trường.
Nắng nóng kéo dài xen kẽ các đợt dông lốc cùng tình trạng ô nhiễm nguồn nước trên sông Bồ khiến gần 10 tấn cá nuôi lồng của 31 hộ dân tại xã Quảng Điền (TP. Huế) bị chết, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế.
Mỗi ngày, cùng với sự phát triển của các đô thị, hàng nghìn mét khối bê tông, gạch đá và vật liệu xây dựng bị thải ra từ các công trình phá dỡ, cải tạo và xây dựng mới.
Nắng nóng kéo dài cùng điều kiện thời tiết cực đoan khiến nguy cơ cháy rừng tại Quảng Trị tăng cao. Trong khi đó, việc thiếu nguồn nước, phương tiện và hạ tầng chữa cháy đang đặt ra nhiều thách thức đối với công tác bảo vệ các cánh rừng phòng hộ ven biển.
Khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn vẫn còn rất lớn khi tình trạng đổ trộm phế thải xây dựng diễn ra ở nhiều địa phương, hoạt động thu gom, vận chuyển thiếu kiểm soát.
Hà Nội đang chuẩn bị triển khai một trong những dự án hạ tầng môi trường có quy mô lớn nhất từ trước đến nay nhằm cải tạo toàn diện sông Nhuệ, dự án có tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 75.115 tỷ đồng.
Chuỗi sự kiện với các hoạt động triển lãm, trưng bày, trải nghiệm và chương trình Gala "Tổ quốc Bình yên" để tri ân sâu sắc những cống hiến, đóng góp, phát huy cao độ truyền thống vẻ vang, tiếp tục khẳng định vai trò, sứ mệnh của lực lượng An ninh nhân dân trong kỷ nguyên phát triển của dân tộc.
Sau khi ghi nhận ý kiến của phụ huynh và thí sinh tại điểm thi Trường THPT Chuyên Tuyên Quang, Sở Giáo dục và Đào tạo Tuyên Quang đã đề xuất Bộ Giáo dục và Đào tạo cho tổ chức thi lại môn Toán, đồng thời xem xét điều chỉnh thời gian xét tuyển đại học, cao đẳng nhằm bảo đảm quyền lợi cho thí sinh.
Dự báo thời tiết ngày 10/07/2026: Có mây, ngày nắng gián đoạn, chiều tối và đêm nhiều mây có mưa rào và dông rải rác, cục bộ có nơi mưa to. Gió đông nam cấp 2-3.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dâng hương, tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ Đại đội Pháo binh 45 Hà Tĩnh đã anh dũng hy sinh khi thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vùng biển Hà Tĩnh trước sự đánh phá ác liệt của nhiều tốp máy bay Mỹ.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu các bộ, ngành và địa phương khẩn trương rà soát, hoàn thiện phương án phòng, chống thiên tai, đồng thời thành lập các đoàn kiểm tra tại những khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão, lũ nhằm bảo đảm sẵn sàng ứng phó trước mùa mưa bão.
Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 (tỉnh Bắc Ninh) đã phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với giám đốc một doanh nghiệp trên địa bàn sau khi cơ quan chức năng phát hiện hơn 652 tấn chất thải nguy hại bị đổ ra môi trường.
Tại nhiều khu vực ở Nghệ An, không khó để bắt gặp những bãi phế thải xây dựng tự phát nằm ven đường, cạnh khu dân cư, trên các bãi đất trống hoặc dọc hành lang giao thông. Từ gạch vỡ, bê tông, đất đá đến vật liệu sau phá dỡ công trình bị đổ bỏ tùy tiện, tất cả đang tạo nên những “điểm nghẽn” về môi trường. Thực trạng đó cho thấy công tác quản lý, thu gom và xử lý chất thải xây dựng trên địa bàn vẫn còn không ít bất cập, cần được nhìn nhận thẳng thắn để có giải pháp đồng bộ, căn cơ hơn.
Chính phủ Malaysia đang đặt các cơ quan quản lý thiên tai trong tình trạng sẵn sàng nhằm ứng phó với nguy cơ xuất hiện hiện tượng "Siêu El Nino" từ cuối năm nay. Nước này đồng thời triển khai nhiều biện pháp phòng ngừa nắng nóng cực đoan, cháy rừng và khói mù trong mùa gió mùa Tây Nam.