Tìm giải pháp để quản lý tài nguyên nước và khai thác, sử dụng nước sạch bền vững

Moitruong.net.vn

– Chiều ngày 18/10 tại Hà Nội, Báo Đại biểu Nhân dân đã tổ chức Tọa đàm “Tài nguyên nước và vấn đề quản lý, khai thác, sử dụng nước sạch”.

Xem VIDEO: Tọa đàm trực tuyến “Tài nguyên nước và vấn đề quản lý, khai thác, sử dụng nước sạch”

Tọa đàm có sự tham dự của ông Nguyễn Lâm Thành – Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội; bà Nguyễn Thị Kim Anh – Ủy viên Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội; TS. ​Nguyễn Linh Ngọc – Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam, Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; Tiến sĩ Khoa học Nghiêm Vũ Khải – Đại biểu Quốc hội Khoá XI, XII, XIV, Nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội; ông Nguyễn Quang Huân – Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Halcom Việt Nam; ông Nguyễn Minh Khuyến – Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường; ông Nguyễn Văn Toàn – Phó Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam, Tổng Biên tập Tạp chí Môi trường và Cuộc sống.

Các đại biểu, khách mời tham gia Tọa đàm

Tọa đàm được tổ chức nhằm tìm các giải pháp quản lý tài nguyên nước theo phương thức tổng hợp và toàn diện, phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng nước sạch.

Ông Nguyễn Minh Khuyến – Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường

Trao đổi tại tọa đàm, ông Nguyễn Minh Khuyến – Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết: “Trong khoảng 30 năm gần đây, tài nguyên nước của Việt nam đang đối mặt với vấn đề thiếu nước so với thế giới. Khả năng tiếp cận nước sạch và nước an toàn của Việt Nam rất thấp. Có tới 8% các doanh nghiệp sử dụng tài nguyên nước gặp sự cố về nước. Đơn cử như tại Nhà máy nước Sông Đà gặp khó khăn nhiều trong việc tiếp cận nguồn nước. Tác động của biến đổi khí hậu đến quá sớm, nước biển dâng, tỷ lệ che phủ rừng cũng giảm đi nhiều trong khi hệ thống quản trị nước còn nhiều bất cập, chưa có sự thống nhất nên hiệu quả quản lý, quản trị chưa cao”.

Tiến sĩ Nguyễn Linh Ngọc – Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam, Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

Đánh giá về thực trạng nguồn nước tại Việt Nam, TS Nguyễn Linh Ngọc – Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam cho rằng: “Địa hình nước ta trải dài, hẹp ngang, độ dốc từ Tây sang Đông, có những vùng lại thuộc đới khô… nên nguồn nước ở từng vùng, từng diện tích, từng khu vực có sự phân bổ khác nhau. vùng cao như Hà Giang thiếu nước cũng là một vấn đề do yếu tố địa hình. Phía đồng bằng nhiều nước hơn nhưng lại tập trung dân cư nhiều hơn, ô nhiễm nhiều hơn. Phía nam có đới khí hậu khô, bản chất đã thiếu nước, đồng bằng sông Cửu Long cũng bị xâm ngập mặn. Như vậy, thực chất Việt Nam rất thiếu nước chứ không phải nhiều nước như mọi người vẫn nghĩ. Để bảo quản nguồn nước tốt, mỗi vùng cần có một giải pháp cụ thể. Ngoài nước tự nhiên, nước chảy tràn, nguyên tắc chúng ta phải giữ được nước, đến mùa cạn phải tái sử dụng được. Để làm được điều này, chúng ta cần phải tăng cường công tác điều tra cơ bản (địa chất thủy văn) để đưa ra nguồn nước nhân tạo để sử dụng. Bên cạnh đó, chúng ta phải chia ra các vùng, không phải vùng nào cũng đều có một chiến lược, mà mỗi vùng phải có chế độ sử dụng nước khác nhau. Ví dụ như ở miền núi phía Bắc như Hà Giang, thì chúng ta phải có chiến lược riêng; hay đồng bằng vùng Ninh Thuận, Bình Thuận- một vùng đới khô sa mạc thì các nhà khoa học phải vào cuộc nghiên cứu xem vùng này cây trồng gì phù hợp để có thể giúp bảo quản, bảo tồn nguồn nước, có thể tái sử dụng nước vào mùa khô”.

Ông Nguyễn Quang Huân – Đại biểu Quốc hội Khóa XV, Phó Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam

Nói về những thách thức có thể gây suy giảm nguồn nước, ông Nguyễn Quang Huân – Đại biểu Quốc hội Khóa XV, Phó Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam cho biết: “An ninh nguồn nước bao gồm: Thứ nhất, phải đảm bảo trữ lượng nguồn nước từ đầu nguồn. Thứ hai, phải đảm bảo sử dụng nước một cách hiệu quả, công bằng với mọi đối tượng. Thứ ba, phải phòng tránh ô nhiễm. Nếu ba vấn đề trên chúng ta đều làm tốt thì an ninh nguồn nước cơ bản được đảm bảo. Hiện nay, việc khai thác một cách bừa bãi sẽ ảnh hưởng đến chất lượng các tầng nước ngầm và nguy cơ ô nhiễm sẽ càng ngày càng cao. Việc phục hồi lại tầng nước ngầm sẽ tốn rất nhiều thời gian, có khi đến hàng trăm năm, vì vậy phải hết sức lưu giữ và bảo quản. Một yếu tố cần quan tâm khác là mỗi ngày có khoảng 60 nghìn tấn rác thải cần xử lý, một năm có khoảng 22 triệu tấn rác. Trong khi đó, việc xử lý rác thải không đáng kể, chúng ta mới chỉ thu gom, xử lý rất hạn chế, từ rác thải sẽ ô nhiễm sang nguồn nước ngầm. Có thể nói rằng, chúng ta sử dụng nguồn nước chưa hiệu quả, chưa có cơ chế bảo vệ rõ ràng nguồn nước sạch để sử dụng lâu dài”.

Bà Nguyễn Thị Kim Anh – Ủy viên thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội

Bà Nguyễn Thị Kim Anh – Ủy viên thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội nêu 6 giải pháp để nâng cao giá trị, hiệu quả sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước: “Đầu tiên, cần có giải pháp về xây dựng tài nguyên nước tầm nhìn dài hạn, hài hòa với điều kiện tự nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu, hoặc khai thác hiệu quả với nguồn nước bên ngoài lãnh thổ, bảo đảm cấp nước sạch cho sinh hoạt, ưu tiên cấp nước hợp vệ sinh cho khu vực hay xảy ra thiên tai, vùng khó khăn, vùng nguồn nước ô nhiễm.

Thứ hai, cần tiếp tục hoàn thiện và thực thi có hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước, đặc biệt là Luật Tài nguyên nước 2012. Việc ban hành văn bản là việc đầu tiên để hoàn thiện thể chế, thực thi văn bản này để làm sao thực hiện có hiệu quả, đó là trách nhiệm của tất cả các cơ quan đến từng người dân. Hiện tại, Chính phủ đã giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên nước cũng như các luật quản lý tài nguyên nước nói chung. Chúng tôi đề nghị sớm nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ, từ đó đề xuất Ủy ban Thường vụ Quốc hội đưa vào chương trình xây dựng pháp lệnh.

Thứ ba, như ý kiến các chuyên gia đã nói, bên cạnh nguồn lực Nhà nước là chủ đạo, ưu tiên cho sử dụng nước, thì phải có sự đẩy mạnh cũng như tạo điều kiện, khuyến khích để cho các tổ chức, thành phần kinh tế hỗ trợ, đầu tư phát triển đối với lĩnh vực nước. Hay nói cách khác, là xã hội hóa công tác này. Để từ đó giúp cho tổ chức, cá nhân, các nguồn lực mạnh lên.

Để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào quản trị nước, một trong những vấn đề Nhà nước có thể làm được ngay đó là đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy trình cũng như mở rộng đối tượng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư để các tổ chức cá nhân có mong muốn hỗ trợ đầu tư lĩnh vực này thì có thể tham gia được. Trong đó, xác định nước là hàng hóa thiết yếu cần được quản lý, vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Xây dựng cơ chế đóng góp của người dân khi tham gia đấu nối, sử dụng nước đảm bảo công bằng, minh bạch và nâng cao ý thức cộng đồng.

Thứ tư, cần tập trung phát triển hạ tầng để khai thác, sử dụng nước bền vững, đồng bộ như nâng cao năng lực của hệ thống hạ tầng khai thác trên cơ sở ứng dụng khoa học công nghệ. Ví dụ như Isarel, không phải là đất nước dồi dào nguồn nước, nhưng họ lại chủ động được nguồn nước. Chuyển đổi số rất quan trọng, nơi có nước và nơi không có nước phải điều tiết như thế nào để phù hợp. Sử dụng, khai thác nước phải phù hợp, ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu.

Thứ năm, cần đầu tư xây dựng các công trình chứa nước. Một trong những nơi chứa nước đó là ao hồ công trình thủy lợi, phải có giải pháp chủ động tích trữ nước khi các công trình này xuống cấp. Có thời kỳ phát triển công nghiệp, các công trình nhà ở, khu công nghiệp đã phá vỡ đầm, ao, hồ. Phải có quy hoạch để hài hòa tất cả các ngành nghề để có hệ thống công trình tích trữ, chủ động được về nguồn nước. Chuyển nước từ nơi thừa sang thiếu, tạo nguồn nước sạch ổn định cho các vùng thường xuyên bị ảnh hưởng thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước.

Thứ sáu, cần thu hút nguồn lực xã hội, huy động sự tham gia, giám sát của cộng đồng trong bảo vệ nguồn nước, đầu tư, xây dựng, vận hành, giám sát công trình chất lượng nước. Nội dung này tại điều 6 của Luật Tài nguyên nước quy định đại diện cộng đồng dân cư được lấy ý kiến, giám sát hoạt động liên quan đến tài nguyên nước. Chúng tôi cũng mong muốn tổ chức đầu tư cũng như chính quyền địa phương tăng cường tạo điều kiện cho cộng đồng dân cư tham gia giám sát bên cạnh các cơ quan quản lý nhà nước”.

Ông Nguyễn Lâm Thành – Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội

Về vấn đề điều tra, kiểm kê tài nguyên nước để nâng cao giá trị, hiệu quả sử dụng nước sạch ông Nguyễn Lâm Thành, Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội cho rằng: “Điểm đầu tiên, cần thiết phải có chương trình đánh giá, điều tra xác định nước là yếu tố quan trọng và tôi mong muốn chương trình này gắn liền với phát triển kinh tế – xã hội.

Thứ hai, về nội dung điều tra, trước tiên phải điều tra về nguồn nước, hết sức chú ý đến vùng khô hạn, đặc trưng về khí hậu như Ninh Thuận, Bình Thuận; vùng đặc trưng về địa hình như Hà Giang, hay một số địa phương vùng cao, miền núi.

Thứ 3, khu vực Tây Nguyên hiện đang đối mặt với vấn đề về nguồn nước hết sức nghiêm trọng, đặc biệt là tầng nước ngầm so chính tác động của con người đến môi trường tự nhiên. Các vùng này được ưu tiên điều tra, đặc biệt là vùng gắn với đời sống người dân, nhu cầu sử dụng không chỉ là nước sinh hoạt. Tôi cho rằng đấy chính là vấn đề cốt lõi, những vùng trọng tâm, trọng điểm”.

Có ý kiến cho rằng, chính sách, quy định hiện nay chưa tính toán đầy đủ giá trị của tài nguyên nước, dẫn đến các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp chưa tính toán đủ giá thành sản phẩm, chưa xác định chính xác hiệu quả sử dụng nước, dẫn đến việc sử dụng nước không tiết kiệm, thất thoát, lãng phí nước, gây thất thu ngân sách nhà nước, không kêu gọi được việc xã hội hóa trong ngành nước.

Tiến sĩ khoa học Nghiêm Vũ Khải – Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội

TSKH Nghiêm Vũ Khải – Đại biểu Quốc hội Khoá XI, XII, XIV, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho rằng: “Trong nền kinh tế thị trường, tính giá đúng, giá đủ là yêu cầu hết sức quan trọng. Nếu tính giá không đúng thì rất ảnh hưởng đến người sản xuất, người tiêu dùng và nhà quản lý. Tính giá đúng chính là việc đảm bảo sự hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Chính vì vậy, tính giá là vấn đề cốt lõi. Năm 2008, tôi đi giám sát ở Đồng Nai, Bình Dương thấy người dân bơm nước ngầm lên để phục vụ cho nhà máy lụa, hàng nghìn, hàng chục nghìn m3. Việc bơm như thế thì bao nhiêu triệu năm mới có thể tích lũy được? Có thể thấy, khi mà chúng ta bơm lên một nguồn nước khác thay thế vào, môi trường thay đổi, nguyên tố độc hại cũng theo lên dẫn đến thiệt hại đơn, thiệt hại kép. Tôi nhận thấy việc xử lý rác thải, nước thải có nhiều vấn đề, tương đồng nhất là vấn đề công nghệ. Rất nhiều nhà sáng chế tạo ra các lò đốt rác, đa phần là không tồn tại được mấy chục năm. Vì rác có rất nhiều chất độc hại, dễ bị ăn mòn.Vì vậy, Việt Nam cần tính đến chuyện đầu tư về công nghệ, cùng chia sẻ lợi ích với các nhà sáng chế nước ngoài để có hiệu quả chúng ta cùng có lợi. Đầu tư khoa học công nghệ, lấy khoa học công nghệ làm cốt lõi thì mới có giá đúng, giá rẻ. Bảo đảm lợi ích giữa các bên thì mới có thể xã hội hóa”.

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng – Phó Tổng Biên tập Báo Đại biểu nhân dân

Tổng kết buổi tọa đàm, Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng – Phó Tổng Biên tập Báo Đại biểu nhân dân cho biết: “Tiếp cận nguồn nước an toàn là nền tảng cho sức khỏe cộng đồng – điều này rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững. Tầm quan trọng của nước đối với xã hội, sức khỏe con người, phát triển kinh tế và hệ sinh thái đã được xác định. Nguồn nước hữu hạn, nhu cầu ngày một cao nên việc quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ nguồn nước phục vụ phát triển bền vững là rất cần thiết. Trong thời gian rất ngắn, các ý kiến của các nhà quản lý, nhà lập pháp, các chuyên gia, doanh nghiệp tại buổi tọa đàm hôm nay sẽ là một kênh thông tin quý báu để các cấp, các ngành, địa phương nỗ lực chung tay, vào cuộc, đặc biệt là nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong những việc làm cụ thể hằng ngày, hướng tới mục tiêu quản lý và phát triển bền vững tài nguyên nước”.

Thế Đoàn